Giá trị bản thân – Phần I


I/ Giá trị bản thân – giá trị nội tại

Giá trị bản thân là giá trị ở trong mỗi người, nói theo thuật ngữ của giá trị học là “giá trị nội tại” (“intrinsic value”). Hiểu “giá trị nội tại” là để hiểu nội lực của mỗi người. “Giá trị nội tại” là khái niệm công cụ trung tâm của khoa học về giá trị, nhưng là một khái niệm đa nghĩa trong đó có cả nghĩa không thuộc phạm vi của giá trị học. Ví dụ, người ta cũng dùng thuật ngữ “giá trị nội tại” để chỉ “giá trị” của một lĩnh vực cụ thể, như trong các sản vật thiên nhiên, các sản phẩm con người sản xuất đều chứa đựng các “giá trị”, trong kinh tế học dùng khái niệm “giá trị nội tại” để chỉ thương hiệu, không kể giá trị khi đem ra thị trường (giá trị trao đổi), giá trị này sẽ được gọi là “giá trị cơ bản” (fundamental value). Giá trị cơ bản đem ra thị trường trao đổi thông qua tiền (“giá trị công cụ”) (intrumental value). Cùng một thuật ngữ, nhưng trong mỗi khoa học lại mang một nội hàm khác nhau, biểu đạt các khái niệm khác nhau. Ở đây quan tâm khái niệm “giá trị nội tại” là đối tượng của khoa học về giá trị.

Brentano (1838 – 1917), nhà tâm lý học người Đức đã có những luận điểm về khái niệm “giá trị nội tại” có ảnh hưởng lớn đối với triết học, tâm lý học, đạo đức học cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong khoa học về giá trị, ông được coi là tác giả đầu tiên đề ra lý thuyết giá trị nội tại ở hai tác phẩm chính: Tâm lý học theo quan điểm kinh nghiệm (năm 1874) và Nguồn gốc của các tri thức về Đúng và Sai (năm 1902) và một số bài báo, giúp người đọc hiểu rõ hơn thế nào là “giá trị” trong giá trị học. Brentano có một khẳng định hết sức quan trọng: “hoạt động tinh thần là đối tượng của nhận biết bên trong (inner perception, có thể dịch là “nhận biết nội tại” tức là “nội tâm”, “lòng người”,…). Đi đến luận điểm “chủ ý” (intention) nổi tiếng trong tâm lý học, thông qua một phạm trù quan trọng khác là phạm trù “ý chí, mong muốn, ước muốn” (willing, volition), được xác định là một cái gì đó được chủ thể chấp nhận hay từ chối, rồi đi đến một quyết định nào đó và có một sự nỗ lực nhất định để thực hiện. Ví dụ, giá trị “chân” (trong bộ ba giá trị “chân, thiện, mỹ”) được Brentano chuyển thành “phù hợp” (correctness), nghĩa là không phải chỉ chân lý chung chung, mà phải là thật sự tương ứng với sự vật hay hiện tượng, và thêm vào đó là phù hợp với sự tồn tại của sự vật và hiện tượng (từ đây đã có ý tưởng khẳng định tính khách quan và tính chủ quan của “giá trị”), được chủ thể chấp nhận và yêu thích, rồi vươn tới một chủ đích cụ thể. Luận điểm này hết sức có ý nghĩa với phạm trù “giá trị bản thân”. Nói về “tốt” hay “xấu” là không những bản thân sự vật, hiện tượng tốt hay xấu, mà còn là cảm nhận của con người về việc đó, nếu “tốt” thì ta yêu thích, ủng hộ, và ngược lại, ta ghét hay không ưa, phản đối. Điều này thể hiện rất rõ trong cặp giá trị “thích thú” (pleasure) và “khó chịu” (displeasure), cũng có thể dịch là “thỏa mãn” và “không thỏa mãn”, mà Freud nói tới.  Từ đó có sự “ưu tiên” cho sự vật, hiện tượng này, “không ưu tiên” hay “ít ưu tiên hơn” cho sự vật, hiện tượng khác. Ông gọi cái “tốt” là “tốt nội tại” (intrinsic good), “tốt” và “thích” hay “yêu” là các từ đồng nghĩa, tức là kéo theo một tâm trạng thoải mái hay thanh thản, ở các mức độ khác nhau; ngược lại, “xấu” và “ghét” – là các “giá trị nội tại” (intrinsic value). Trong các trường hợp này, xuất hiện một trạng thái tâm lý tương ứng rất rõ ràng, cho nên công tác tâm lý là hướng tới một trạng thái tâm lý tích cực, cũng có khi phải ngăn ngừa hay vượt qua một trạng thái tâm lý tiêu cực. Từ đó hình thành nên thuyết “giá trị nội tại”. Các giá trị nội tại có logic nội tại là đối tượng nghiên cứu của giá trị học. Lý thuyết này còn dựa vào một luận đề khác: cá thể là một thực thể có thực (entia realia), phán đoán hay niềm tin của chủ thể về cái có thực được gọi là các giá trị nội tại (chúng tôi gọi các “giá trị” thường dùng, như phán đoán hay niềm tin, trong các điều tra giá trị thế giới là “thái độ giá trị”, bộc lộ cách thể hiện “giá trị nội tại” qua việc xếp một giá trị nào đó trong bảng hỏi vào một bậc nào đó trong thang điểm). Mặt khác, ông cũng nhấnt mạnh, các thuật ngữ “tốt”, “xấu”, “tốt hơn” là các phạm trù tổng hợp (syncategorimatic), là các giá trị phổ quát, tức là cả loài người từ xưa đến nay luôn hướng tới. Để các giá trị phổ quát này thành các giá trị nội tại của từng người, như nói ở trên, phải được chủ thể chuyển thành nhận thức bên trong, cảm nhận bên trong. Và ông nói tới quá trình “cảm nghiệm” (sensing), “trải nghiệm” (experiensing): có cảm thấy chất lượng của tác động thì mới thành giá trị nội tại – (Husserl, người sáng lập ra thuyết Hiện tượng luận, tiếp thu ý tưởng này từ Brentano, xây dựng nên lý thuyết về trải nghiệm có ý nghĩa quan trọng với tâm lý học và giá trị học). Nắm được cơ chế này là rất cần thiết đối với quá trình hình thành “giá trị bản thân”. Theo đó Brentano cho thấy, giá trị học có thể vận dụng sang đạo đức học (ethics). Để làm việc đó, ông đưa ra phạm trù “nghĩa vụ” (requirement, có thể dịch là “đòi hỏi”), mà ngày nay chúng ta gọi là “nghĩa vụ xã hội” hay “tinh thần trách nhiệm xã hội – những giá trị nhất thiết trong “giá trị bản thân”.

Brentano đề ra ba phẩm chất của các giá trị nội tại: (1) Tính phù hợp, (2) Vươn tới đối tượng chủ đích, và (3) Tính chân thật của giá trị. Ông cũng đặt một vấn đề lớn khác cho giá trị học là vấn đề về hệ giá trị: xét một giá trị nào đấy, phải đặt nó vào hệ giá trị nhất định. Có vậy mới thấy giá trị nào đồng đẳng với giá trị nào, hay sự chuyển hóa từ cực này sang cực kia, hay từ ít hơn đến nhiều hơn, và ngược lại, cái này bù cho cái kia, giá trị nào được chú trọng hơn giá trị nào.

Qua đó, có thể nói tóm lại luận điểm của Brentano tập trung vào năm điểm sau: (1) Brentano đi từ tâm lý học đến triết học, trong đó có một số ý kiến tập hợp lại thành lý thuyết về giá trị (theory on value), góp phần quan trọng xây dựng giá trị học (axiology); (2) Lý thuyết về giá trị của ông xuất phát từ hai luận điểm sau: a) trong tâm lý con người không phải chỉ chú ý tới mặt lý trí, mà còn phải rất coi trọng lòng “mong muốn”, nói rộng ra là mong cái gì thì thấy cái đó có ý nghĩa, có giá trị, rồi vươn tới, nhưng vươn tới nhiều khi phải có ý chí, phải vượt qua bản thân, vượt qua chính mình; b) lòng “mong muốn”, “ý chí” phải đặt vào phạm trù “nội tại” (intrinsic), tức là vào phạm trù “tinh thần”, “tâm lý”, như thường nói “tại tâm” hay “từ tâm”, “nội tâm, từ đó đi đến khái niệm “giá trị nội tại”, một lực bên trong – “nội lực” của từng người, từng dân tộc. (3) “Giá trị bản thân” là sức mạnh tinh thần, sức mạnh tâm lý của từng con người của cả cộng đồng, dân tộc, là “sức mạnh mềm”. Gọi là “nội tại” vì quá trình nhận thức đã đi vào sâu hơn trong phạm vi tinh thần con người (hay cộng đồng xã hội), Brentano gọi là quá trình “nhận biết nội tại – nội tâm”. Ví dụ, có một tri giác và con người khi biết về tri giác đó gọi là “cảm nhận”, và quan trọng hơn, ông đã nói đến “cảm nghiệm”, “trải nghiệm” trong giá trị học; “nhận biết”, “cảm nhận” và tư duy hay tình cảm phải vào được trường ý thức, thành vốn sống, thậm chí trở thành triết lý nhân sinh; như vậy, ông đã chỉ ra các thuộc tính của “giá trị nội tại”; (4) Ông cũng đã định hướng suy nghĩ về “hệ giá trị”; (5) Ông đã chỉ ra hướng vận dụng giá trị học, trước hết vào đạo đức học, ngày nay phổ ứng dụng của khoa học này đã mở rộng hơn nhiều. Bài học từ tâm lý học, giá trị học cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX còn nguyên giá trị đối với các nhà tâm lý học và giáo dục học chúng ta ngày nay. Cả năm nội dung này đều có ý nghĩa đối với việc hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân”.

Sau Brentano, nhà tâm lý học người Anh Moore đã phát triển lý thuyết “giá trị nội tại”. Công lao đóng góp của Moore với lý thuyết về giá trị trước hết ở chỗ ông đã khẳng định “giá trị nội tại” là  đối tượng của khoa học về giá trị. Thêm vào đó, Moore xác định “giá trị nội tại” là “giá trị bản chất” phản ánh đặc trưng thế giới tâm lý của người mang giá trị ấy: “giá trị” rõ ràng mang tính chủ quan về mặt khách quan. Moore đã chứng minh tính khách quan của “giá trị” thông qua khẳng định đối với một vật thể con người thấy nó đẹp hay xấu, biểu hiện một “thái độ tinh thần” (mental attitude), thái độ ấy nói lên sự ưa thích, mong muốn, như Brentano đã chỉ ra. Trong các công trình của mình, chúng tôi quy về phạm trù “thái độ giá trị” là một cách biểu hiện “giá trị bản chất”, bộc lộ “giá trị nội tại”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s