Giá trị bản thân – Phần II


Sau Moore, trong lịch sử phát triển giá trị học phải kể đến Hartman (1910 – 1973). Lý thuyết về giá trị là một trong các điểm xuất phát trong các công trình của Hartman, người có công đầu trong xây dựng và phát triển giá trị học nửa sau thế kỷ XX, nhất là trong việc vận dụng giá trị học vào cuộc sống, như điều tra giá trị thế giới và các châu lục, các nước, các vùng lãnh thổ. Theo đó, các kết quả điều tra được lượng hóa bằng phương pháp tính toán, tìm “giá trị trung bình” của một nhóm, một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc (từ các công trình điều tra giá trị thế giới đã phác họa được bản đồ văn hóa thế giới ngày nay), tạo ra một hướng mới rất phát triển trong xã hội học, trong nghiên cứu con người, và sau này vận dụng vào cả tâm lý học, giáo dục học. Hướng phát triển mới này của khoa học về giá trị dựa vào khẳng định (do Hartman là người đầu tiên phát hiện ra) cho rằng: trong đời sống của con người và xã hội, bên cạnh các “thực tiễn” khác còn có “thực tiễn giá trị” là mảnh đất của giá trị học: con người, cộng đồng, xã hội nhận ra các “giá trị” trong thế giới vật chất, gọi chung lại là các giá trị vật chất (trong đó có các “giá trị kinh tế”) thành các “giá trị nội tại” ở trong con người hay cộng đồng, xã hội. Để xác định đối tượng của giá trị học, nhiều nhà nghiên cứu quy các “giá trị kinh tế” vào phạm trù các “giá trị ngoại tại”, và chỉ có các “giá trị” là đối tượng của giá trị học mới gọi là “giá trị nội tại”, và gọi là “giá trị tinh thần” – “giá trị tâm lý”. Hai loại giá trị này, vật chất và tinh thần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Bên cạnh đó, còn có “giá trị công cụ”, như “tiền”, “vàng”, nhiều khi cũng là mối liên hệ giữa “giá trị vật chất” và “giá trị tinh thần”. Có ý kiến cho rằng trong giá trị học cũng có phạm trù “giá trị công cụ”, như các kỹ năng, thói quen… Ví dụ, cây đàn vốn chỉ là một công cụ, một hàng hóa, một vật trao đổi, nhưng qua bàn tay, trí tuệ và tâm hồn người nghệ sĩ đã làm sống lại bản nhạc do nhạc sĩ sáng tác. Năng lực biểu diễn là “giá trị nội tại” của người nghệ sĩ. Hơn nữa, còn thính giả cảm nhận riêng với tâm thế, tâm trạng… cũng tạo nên “giá trị nội tại” – “giá trị tâm lý” ở người nghe. Đó là ví dụ về “thực tiễn giá trị” vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan cho Hartman phát hiện ra, góp phần khẳng định đối tượng của khoa học về giá trị. Ngoài ra, Hartman còn khẳng định ở con người, nhóm người, cộng đồng, xã hội, trong “thực tiễn giá trị” có năng lực “xác định giá trị”, nhận biết và đánh giá các giá trị. Ông cũng nêu một số giá trị cụ thể, như giá trị đồng cảm, giá trị tự tin, giá trị phán đoán… Từ năng lực “xác định giá trị” đi đến “thái độ giá trị” thường có thể đo đạc được trong các cuộc điều tra giá trị. Thái độ giá trị, nhất là thái độ định hướng giá trị là một thành tố nổi bật trong nhân cách, đặc biệt ông nhấn mạnh ý thức về bản thân như là một giá trị: thái độ giá trị có ý nghĩa quan trọng đối với giá trị bản thân. Nghiên cứu ba tác giả và mấy điều vừa trình bày, tác giả đi đến phạm trù “giá trị bản thân” như là một phạm trù trung tâm của tâm lý học giá trị và giáo dục học giá trị.

II/ Giá trị bản thân – khái niệm trung tâm

“Giá trị bản thân” là tổ hợp các giá trị cá thể, cá nhân và nhân cách – các giá trị của từng người do chính người đó hình thành và phát triển, sử dụng, phát huy và tự thể hiện, tự khẳng định trong cuộc sống của mình. Tuy nhiên, phụ thuộc vào nhiều điều kiện bên ngoài thuận lợi hay cản trở  mà “giá trị bản thân” được phát huy hiệu quả. Chúng tôi trình bày đôi điều chủ yếu phục vụ chủ đề của tác phẩm này: tìm hiểu hệ giá trị của loài người, của cộng đồng quốc tế và của dân tộc. Muốn vận dụng vào tâm lý học và giáo dục học, nhất thiết phải đi đến hình thành, phát triển, phát huy giá trị bản thân, tức là phải thành “giá trị tinh thần, tâm lý, nội tại” của chính từng người, thành “bản tính thứ hai”, thành “lực lượng bản chất” người, coi con người như đơn vị của giá trị gia đình, cộng đồng, dân tộc, loài người. Lực lượng bản chất người có lực lượng sinh thể và lực lượng tâm lý, tinh thần, các lực lượng này đều có nguồn gốc ban đầu di truyền, bẩm sinh. Nhưng ở con người, hai lực lượng này rất gắn quyện với nhau. Không nói tới các quan niệm coi con người là công cụ biết nói, lấy sức mạnh cơ bắp của người lao động để làm giàu, tức là nhìn vào con người cốt lấy sức mạnh cơ thể để vận hành các hoạt động kinh tế và các công việc khác trong xã hội, và quan niệm con người chỉ như cái “đinh ốc” trong xã hội, làm tha hóa con người để dễ bề cai trị, bóc lột, thì các tư tưởng tiến bộ từ thời cổ đại, nhất là sau Cách mạng tư sản Mỹ và Pháp cuối thế kỷ XVIII, rồi thế kỷ XX đều đã chỉ ra, hai lực lượng trong con người có quan hệ khăng khít. Qua giáo dục và tự giáo dục đã đi đến khái niệm “phát triển người” vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Từ đó cuộc sống xã hội và khoa học, nhất là triết học và tâm lý học mới đi vào phạm trù “cá nhân” và “nhân cách”. Phát triển cơ thể, phát triển trí tuệ, đạo đức, nhân cách, tinh thần,… nói chung lại là phát triển thế giới tinh thần, tâm lý và các điều kiện xã hội cho sự phát triển đó chính là phát triển “giá trị bản thân”, và là điều kiện quan trọng vào bậc nhất để có một xã hội an bình, phồn vinh, thịnh vượng.

Nêu một ví dụ về phát triển con người bền vững thông qua phát triển trí tuệ – tư duy trong thời địa ngày nay như là một thành phần trong “giá trị bản thân”. Thân hình cơ thể con người là vẻ đẹp hoàn thiện như danh họa người Italy Leonardo da Vinci (1452 – 1519) đã mô tả: hình dạng cơ thể có ý nghĩa nhất định đối với tâm lý, tính cách. Gần đây có một số công trình về vấn đề này đăng trên tạp chí Khoa học tâm lý nghiên cứu tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng trên khuôn mặt, tỷ lệ này trên dưới 2 hay gặp ở những người giỏi giang, tỷ lệ này trên dưới 1,5 hay gặp ở những người có tính cách thẳng thắn và đúng mực. Từ xa xưa, sinh thể con người về đại thể đã hoàn chỉnh đầy đủ, nhưng càng ngày các hệ thống chức năng trong đã trải qua bao đổi thay theo hướng ngày một phức tạp hơn, phong phú hơn, tốc độ nhanh hơn, linh hoạt, hiệu quả hơn,… đưa trình độ tư duy của con người lên các bậc thang mới: tư duy hệ thống, tư duy phức hợp. Nhờ vậy, loài người đã tạo dựng nên các nền văn minh, làm nên các cuộc cách mạng khoa học, cách mạng khoa học – kỹ thuật, và ngày nay là cách mạng công nghệ, tạo nên nền văn minh công nghệ thông tin. Sự phát triển vượt bậc đó là thành quả của quá trình giáo dục và tự giáo dục, làm cho con người biến tiềm năng thành năng lực, thành người có “giá trị bản thân” ngày càng phong phú, tích cựu, hữu ích, với đặc trưng là hoạt động tinh thần, tâm lý ngày càng phát triển, tiềm năng trong cá thể người ngày càng bộc lộ. Trong hoạt động này có hệ giá trị được hình thành và phát triển, vừa là sản phẩm vừa là tiền đề của phát triển văn minh – văn hóa của loài người, của từng quốc gia, dân tộc và sự phát triển bền vững con người.

Thế giới càng văn minh, xã hội càng dân chủ, con người càng tự do, “giá trị bản thân” con người càng được đề cao, được coi là giá trị đặc biệt, đến mức khẳng định “con người là điểm gốc của mọi tọa độ giá trị của dân tộc, của loài người”, nguồn gốc của mọi tiến bộ xã hội. Đó chính là tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa nhân văn từ thời cổ đại. Ngày nay, với những bước phát triển mới với tốc độ lớn, phổ biến toàn cầu nhanh, trong đó vai trò của hệ giá trị nói chung, giá trị bản thân nói riêng được đánh giá rất cao trong “sức mạnh mềm” của con người, từng cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Vận dụng vào tìm hiểu khái niệm “giá trị bản thân”, cần chú ý bốn điểm như sau:

1/ Coi trọng giá trị bản thân

Trước hết, giá trị trị học thức tỉnh cộng đồng, xã hội coi trọng con người, và mỗi người phải biết giá trị của chính bản thân mình như một con người trong gia đình, cộng đồng, xã hội, biết trọng “giá trị bản thân” mình (self-respect), trọng người khác, trước hết là hiếu thảo trong gia đình, rồi quan hệ tốt đẹp trong cộng đồng, xã hội. Từ “tự trọng” mới có “tự tin” – biết đánh giá đúng mình, đúng người, không kiêu căng, khoe khoang, luôn luôn phải khiêm nhường, luôn phấn đấu để đạt “giá trị bản thân”, để mọi người, cộng đồng và xã hội coi trọng. Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào nấc thang phát triển môi trường giá trị xã hội ở mỗi vùng, mỗi nước, tùy theo độ tuổi, giới tính. Chúng ta tuy chống chủ nghĩa cá nhân, nhưng nói chung trong thời đại cách mạng thông tin, kinh tế tri thức, công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế hiện nay, rất cần và phải đánh giá đúng vai trò của cá nhân, kể cả trong mối quan hệ giữa người quản lý, lãnh đạo với các thành viên, trên tinh thần gắn bó với tập thể, con người có ý thức xã hội. Đây là một đặc trưng của chế độ cộng hòa, xã hội dân chủ. Mặt khác, trong các chế độ xã hội này hết sức coi trọng sự cố kết xã hội, “vốn xã hội”. Riêng trong chế độ phong kiến, tâm lý quần chúng và dựa theo lãnh tụ, thủ lĩnh, như nhà tâm lý học người Pháp Le Bon (1841 – 1931) viết trong tác phẩm Tâm lý học đám đông hay Tâm lý học quần chúng (năm 1895). Trong xã hội cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, người ta đặc biệt chú trọng vai trò của từng con người.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s