Giá trị bản thân – Phần III


Ý nghĩa của “vốn xã hội”, “mạng xã hội” chính là ở chỗ đó, lấy cá nhân con người, và thậm chí là của cả xã hội là đơn vị của “mạng”, “vốn” đó. Coi trọng giá trị bản thân bao hàm cả trách nhiệm với chính mình, cũng như với cộng đồng, xã hội. Có trách  nhiệm với bản thân, rồi trách nhiệm với gia đình thì mới có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, quốc gia, dân tộc… Đó chính là biểu hiện của nhân cách, trách nhiệm xã hội càng cao, nhân cách càng lớn. Coi trọng con người (và kéo theo là chú ý phát triển giáo dục) là một tiêu chí hết sức tiêu biểu của xã hội trong lịch sử loài người: giáo dục con trẻ có tinh thần coi trọng giá trị chính bản thân mình, dạy trẻ biết tự yêu bản thân, từ vị kỷ đến vị tha, cũng có lý luận giáo dục từ vị tha đến vị kỷ, hay trung dung đồng thời chú ý cả hai, nhưng tựu trung lại, phải biết coi trọng bản thân rồi từ đó coi trọng người khác, hoặc coi trọng người khác và coi trọng bản thân… Muốn vậy, một điều kiện có ý nghĩa quyết định là phải tạo lập được giá trị bản thân – đây là cơ sở để sống và phát triển bền vững con người. Tạo lập giá trị bản thân không phải chỉ là mong muốn hay quyết tâm suông, mà phải bằng hành động, hoạt động để đạt được kết quả cụ thể. Có giá trị bản thân mới có “chính mình”, mới có cái gì để thể hiện hay tự khẳng định mình. Coi trọng giá trị bản thân là lập trường để hình thành và phát triển giá trị bản thân.

2/ Hình thành và phát triển giá trị bản thân

Muốn có ý thức tôn trọng giá trị bản thân – điểm xuất phát của tự ý thức, không đơn thuần là làm cho trẻ có ý thức đó thuần tuýt rên bình diện tinh thần, mà điều quan trọng hơn, có ý nghĩa quyết định là tạo nên cái gì để tự tôn trọng và được người khác tôn trọng. Đó chính là “giá trị bản thân” mà mỗi người phải hình thành cho được. Giá trị bản thân là bản sắc của từng người, là cơ sở để con người có cuộc sống độc lập, là “giá trị sống” của mỗi người. “Giá trị sống” thể hiện kỹ năng sống trong hành vi, hành động, hoạt động. Các nhà triết học kinh điển, như Hegel, K. Marx… đã chỉ ra, và các nhà tâm lý học hoạt động như Vư-gốt-xki, A.N. Leonchi-ép đã chứng minh rằng “hoạt động là bản thể của tâm lý”: thế giới tâm lý, tinh thần được hình thành bằng và trong hoạt động và giao tiếp của bản thân. Cả thuyết hiện sinh, tâm lý học nhân văn cũng khẳng định như vậy: mỗi người tự tạo ra “bản tính thứ hai” – bản thân mình, giá trị bản thân, giá trị sống, và ai hình thành được giá trị bản thân thì người đó mới có “con người riêng” của mình. Theo tinh thần đó, ở tuổi trưởng thành thì “lao động là giá trị gốc” tạo nên mọi giá trị của chính mình. Nói cụ thể, với trẻ mầm non, tiểu học và trung học, đó là hoạt động vui chơi, hoạt động học tập kết hợp với hoạt động lao động, hướng nghiệp, nhằm tạo nên những con người có đạo đức, có tay nghề, có điều kiện để tạo nên cuộc sống tốt đẹp, để trở thành người có trách nhiệm với xã hội, có năng lực tham gia vào nguồn nhân lực của gia đình, cộng đồng, đất nước. Kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như di truyền học, sinh vật học, tâm lý học thần kinh… đã chứng minh năng lượng tâm lý khởi thủy (tiềm năng) của đời sống tinh thần, tâm lý (sức mạnh văn hóa, sức mạnh tinh thần, sức mạnh tâm lý) vốn chứa đựng trong tất cả các tế bào trong cơ thể và tập hợp trong các hệ thống chức năng thần kinh, bắt đầu dưới dạng vô thứcừ khi con người sinh ra. Vấn đề là ở chỗ làm sao để phát huy được các năng lượng tiềm tang này – đây là vấn đề rất hệ trọng đối với sự phát triển con người nói riêng và phát triển cả nền văn minh – văn hóa của từng dân tộc và của cả nhân loại nói chung. Tiềm năng, năng lượng tâm lý dự trữ trong con người là rất lớn, khoa học cho hay, con người mới dùng khoảng 5% các tế bào thần kinh, hoặc có thể sử dụng số lượng neuron thần kinh lớn hơn, nhưng mới dùng với một công suất nhỏ, hoặc lúc dùng số neuron này, lúc dùng số neuron khác… vấn đề còn nhiều điều chưa biết. Vấn đề chính hiện nay là phải phát huy tiềm năng, tức là biến tiềm năng thành khả năng, từ khả năng thành các năng lực chung, năng lực chuyên biệt, năng lực đặc biệt. Các năng lực này đạt chất lượng cao, trở thành tài năng nhân tài. Thông thường, con người trong quá trình trưởng thành, sống, học tập và rèn luyện đều biến tiềm năng thành khả năng – năng lực chunng như năng lực tiếp thu và vận dụng – “vùng phát triển gần”; năng lực giao tiếp…; và có thể một vài năng lực chuyên biệt như năng lực tư duy, năng lực nói, năng lực lao động… ở các mức độ khác nhau. Quá trình hìnht hành và phát triển đó cảu con người phụ thuộc vào lứa tuổi, vào từng người và có yếu tố di truyền, nhưng quyết định là ở hoạt động, sự phấn đấu, rèn luyện, kiên trì, có niềm đam mê…, phụ thuộc vào môi trường xã hội, vai trò của từng thời kỳ khác nhau đem lại. Nhưng nhìn chung, hoạt động giáo dục và tự giáo dục giữ vai trò quyết định giúp con người biến tiềm năng thành khả năng, thành các năng lực. Từ đó dẫn tới kết luận: giá trị bản thân là tổng các năng lực hoạt động của từng người, bao gồm (1) Tâm lực, (2) Trí lực, (3) Thể lực. Vì vậy, nhà trường, gia đình cần có trách nhiệm giúp các em học sinh phát huy tiềm năng để hình thành các giá trị bản thân cho các em.

Phân định rành rọt được như vậy cũng không phải là chuyện dễ làm. Trên thực tế, một hành động, hành vi, hoạt động của con người, từ một lứa tuổi nhất định đều có sự tham gia của cả ba lực đó. Mối tương quan giữa ba miền này khá phức tạp, nhiều khi mỗi trường hợp một khác, mỗi lứa tuổi một cách, tùy hoàn cảnh mỗi miền bộc lộ vai trò muôn hình vạn trạng. Ở đây, chúng tôi nêu “chí” (tâm lực) lên đầu, vì “chí” là đặc trưng rõ nhất của tinh thần, “chí” biểu hiện tập trung của “tâm”. “Tâm lực” là sức mạnh của ý chí, thể hiện trong các hành động, hành vi, hoạt động, vừa là phẩm chất vừa là năng lực chung nhất trong con người.

Cần phải nhấn mạnh rằng, cái chí (tinh thần) phải dựa trên sự hiểu biết (nhận thức), phải nắm được quy luật, duy lý, khoa học, tức là có trí tuệ trong hành động, hành vi, hoạt động, là trí lực. Nếu cái “chí” dựa trên sự thối nát, mù quáng, không thoát khỏi vòng cương tỏa của bản năng thường đồng nghĩa với sự phá hoại, nếu kết hợp với động cơ xấu, ác thì nguy hiểm hơn nhiều. Đó là giá trị bản thân tiêu cực (âm). Có thể nói, mọi sai lầm là do dốt nát, mọi thất bại là do thối chí, mọi xấu xa đều từ động cơ lệch lạc. Trong ba giá trị phổ quát nhất “chân – thiện – mỹ”, loài người đã đúc kết “chân” (nhận thức = trí) là giá trị được đặt lên trước. Mặt khác, phải hiểu cả ba giá trị phổ quát nói lên cả thế giới tinh thần, tâm lý của nhân loại, từng dân tộc, từng con người thường đi với nhau. Theo đó, có thể hiểu “mỹ” nghĩa hẹp là “cái đẹp” hàm chứa cả “cái đẹp” của thân hình con người, lẫn cái đẹp của tâm hồn, thể hiện tấm lòng, cách ứng xử, nói tóm lại, văn hóa – một vẻ đẹp tuyệt vời, không gì sánh bằng.

Và sức mạnh (lực) của con người cũng đượng mang trong một thân thể, nên trong các thành tố của “giá trị bản thân” không thể thiếu “thế lực”, đem thế lực phục vụ cho tâm lực và trí lực. Mỗi “lực” đứng riêng rẽ có một sức mạnh nhất định, tuy có ít trường hợp như vậy, hoặc đặt ra như vậy chỉ để phân tích. Freud cũng đã chỉ ra: có sức mạnh tinh thần, tâm lý tham gia thì sức mạnh cơ thể mới đạt đỉnh cao. Đúng như vậy, với các kỷ lục thể thao như tâm lý học thể thao đã khẳng định. Nhiều trường hợp thành đạt, nhất là những trường hợp thành đạt cao, rất cao cũng vậy, phải có “chí”, có “tâm”. Cho nên có thể ghi kết luận vào công thức sau đây: giá trị bản thân không phải đơn thuần là tính cộng tâm lực + trí lực + thể lực, mà phải là tổng hòa (ensemble) của các “lực” ấy.

Ở trên đã nói, với tư cách là cá thể người, con người thừa hưởng các giá trị loài người thành giá trị cá thể, còn với tư cách cá nhân, con người tiếp thu các giá trị dân tộc thành giá trị cá nhân. Hai nhóm giá trị này làm giá đỡ cho mỗi người hình thành “giá trị nhân cách”. Như vậy, giá trị bản thân của mỗi người gồm ba thành phần gộp thành “Quả cầu giá trị bản thân”:

c/ Giá trị nhân cách,

b/ Giá trị cá nhân,

a/ Giá trị cá thể.

Vấn đề đang bàn là khái niệm “giá trị bản thân” trong giá trị học. Ở đây muốn nói tới cơ chế hình thành “giá trị bản thân” là lực riêng lẻ hay là sự tổng hòa các lực phải qua trải nghiệm. Trải nghiệm là cơ chế hình thành giá trị, nói đơn giản, là chủ thể phải trải qua và nghiệm thấy cái chí (ý định, chủ định, ước muốn, chủ đích…, tức là ăn nhập vào đời thực của chính mình), chứ không phải chỉ quan sát hay học vẹt, cũng không phải học chỉ để đi thi mà những tri thức học được đó phải được lĩnh hội và ứng dụng vào cuộc sống. Chủ thể phải rèn đúc ý chí, học hỏi tri thức chuyển hóa thành thái độ, giá trị, phẩm chất và năng lực, thành vốn liếng của mình, ăn nhập vào chuỗi kinh nghiệm bản thân và vận dụng vào giải quyết các vấn đề, như tâm lý học lâu nay đã khẳng định. Hay nói theo lý luận của giá trị học là ba “lực” đó phải lọt vào trường ý thức, lọt vào tâm thức, chuyển động qua lại giữa vô thức và ý thức, rồi lên bậc cao hơn là tự ý thức được và bộc lộ ra bằng hoạt động có ý thức, cũng có lúc phát ra bằng trực giác, biến nó thành sức mạnh, thành giá trị của chính mình (nội lực) và phải sống bằng chính các giá trị ấy.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s