Giá trị bản thân – Phần IV


Ngày nay, mạng xã hội ngày càng phát triển, nên “giá trị bản thân” là bộ lọc của chính mình, không a dua nhẹ dạ, thậm chí là mù quáng, dại dột. Trước đây, giáo dục học thường vận dụng phương pháp tiếp cận “nội dung”, tức là chỉ tập trung vào truyền tải tri thức sách vở một cách thuần túy hay quá thiên về lý thuyết. Điều này phải được thay đổi để tri thức hình thành được năng lực. Hai phương pháp tiếp  cận này không mâu thuẫn nhau, trong phương pháp sau có tiếp cận phương pháp trước, đem những điều học hỏi được thông qua luyện tập dưới nhiều hình thức khác nhau, trong các hoàn cảnh khác nhau, trải nghiệm khác nhau, thành kỹ năng, thái độ, giá trị, tức là thành các nhân cách khác nhau của con người. Khắc phục lối dạy và học lỗi thời, trong thời đại công nghiệp, nhất là từ khi đi vào thời kỳ thế giới mạng và kinh tế tri thức cần đặc biệt chú trọng giúp người học hiểu sức mạnh của nội lực ở con người nói chung, ở chính bản thân mình nói riêng, chú trọng khâu thực hành, vận dụng tri thức vào cuộc sống – đó chính là hình thành “giá trị bản thân”. Triết lý “giá trị bản thân” nảy sinh trong trào lưu tư tưởng đó. Vào thế kỷ XXI, nhiều nước chủ trương dạy các môn như kế hoạch tương lai, địa lý tương lai, xã hội tương lai, điều khiển học, phân tích giá trị, tâm lý học… nhằm giúp người học hiểu mình hơn và hình thành đạo đức và tay nghề là hai bộ phận lớn cực kỳ quan trọng trong “giá trị bản thân”, phát huy tiềm năng vô cùng phong phú của con người.

Hình thành, vận dụng và phát triển “giá trị bản thân” theo lứa tuổi là vấn đề phức tạp. Chẳng hạn, một số công trình tâm lý cho rằng trẻ từ ba đến năm tuổi có thể bắt đầu có khả năng hình thành và phần nào thể hiện giá trị bản thân. Phức tạp hơn, như Freud đã chứng minh: từ tiềm năng thành khả năng, năng lực phải qua cơ chế trải nghiệm từ trong vô thức, rồi sau vào ý thức, lại có lúc xuống “dưới ý thức” hay “vô thức” (ví dụ, lúc ngủ mê), rồi qua “tiềm thức” lại “trườn” lên “ý thức”,…, bắt đầu từ tuổi ấu thơ đến khi trưởng thành. Như vậy, thế giới nội tâm nói chung, quá trình hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân” nói riêng, trừ rất ít trường hợp không diễn ra theo đường thẳng, mà quanh co khúc khuỷu, Freud gọi đó là một “chiến trường” với rất nhiều mâu thuẫn đòi hỏi con người phải có nỗ lực, phấn đấu, hay nói dung dị hơn là sự chăm chỉ, chịu khó, nhẫn nại, hình thành cho được giá trị bản thân. Trong cuộc sống, mỗi người mang giá trị bản thân ra giải quyết vấn đề, các mâu thuẫn mình gặp phải, để vượt qua ngưỡng “bấp bênh”, đạt tới thang bậc “sống còn”, bậc “hoạt động” nói chung, và các thang bậc tiếp theo cao hơn trong tháp giá trị bản thân. Quá trình đó gọi là quá trình “vượt qua chính mình”, “vượt qua bản thân”, hay khắc phục “hoàn cảnh”, khắc phục khó khăn để sốg, chia sẻ, đóng góp và cống hiến.

Có khi tiềm năng phát triển thành năng lực rất sớm, có khi nằm mãi trong cơ thể, trong não bộ, đến tuổi trưởng thành hoặc chậm hơn mới được khai mở. Có trường hợp tiềm năng biến thành một khả năng đặc biệt mà ngày nay ta hay nói tới là năng lực ngoại cảm, thấu thị, dự báo… Nói chung, tiềm năng trong sinh thể, trong não bộ dần dần có thể chuyển thành năng lực, thành “giá trị bản thân” mà điều quan trọng để đáh thức tiềm năng đó vẫn là giáo dục và tự giáo dục, trong đó, cơ chế trải nghiệm bộc lộ rõ nhất là thực hành, là sống với chính mình: chỉ có thông qua thực tế mới luyện được “chí”; lý luận học được phải vận dụng vào thực hành, thực tập, giải quyết vấn đề, mới thành “trí”; với sức khỏe là sức bền, sức chịu đựng, tức là thành lực hỗ trợ cho cái “chí” và các hoạt động khác. Nói chung lại, việc cần thiết là phải rèn luyện ý chí, cải thiện sức khỏe, học tập nâng cao tri thức và tất cả phải chuyển thành kỹ năng, đồng thời vận dụng cả ba năng lực vào đời sống, tạo ra hệ giá trị cho bản thân.

Trong phạm vi cuốn sách này, vấn đề muốn nhấn mạnh ở đây là hình thành giá trị bản thân bằng giáo dục và tự giáo dục thông qua giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, kết hợp lý thuyết sách vở và bài học thực tiễn. Không đi sâu vào lứa tuổi, nhưng tính từ phổ thông cơ sở, các nhà trường phải hướng nghiệp, sau cấp học này là tuổi “phân hóa phát triển năng lực” khá rõ nên cần tổ chức “phân luồng” thực hiện hướng học và hướng nghiệp cho phù hợp với từng học sinh, với từng gia đình và theo yêu cầu của thị trường lao động ở địa phương, từng vùng trong nước và ngoài nước. Đến tuổi thành niên, con người đã hoàn thiện dần nhân cách, có tay nghề và lương tâm nghề, có thể tự tạo lập cuộc sống của mình và góp phần vào sự phát triển của đất nước. Quá trình chuyển hóa tiềm năng thành kỹ năng, hành vi, hành động, hoạt động, nhất là hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống xã hội chính là quá trình trải nghiệm, biến các thứ học được thành kinh nghiệm bao gồm kỹ năng, thái độ và giá trị. Mỗi người bằng những bài học kinh nghiệm rút ra trong đời sống hằng ngày, để trở thành con người từng trải, biết mình, biết người, có văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, có trách nhiệm gia đình, trách nhiệm xã hội sẽ là những nhân tố tốt cho một xã hội phát triển trong tương lai.

Cần phải đặc biệt nhấn mạnh đức tính “cần” – chăm chỉ, nhẫn nại, tự thân vận động, bởi nó hết sức có ý nghĩa với cuộc đời mỗi người. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đặt đức tính “cần” ở vị trí đầu tiên trong tư cách con người. Chăm chỉ lao động là điều kiện quan trọng nhất để thành người chân chính. Tóm lại, mỗi con người phải làm sao hình thành cho mình có được hệ giá trị bản thân, rồi liên tục phát triển, thể hiện được bản lĩnh, tự tin, để tự vươn lên. Ở đây, giá trị “tự tin” có ý nghĩa đặc biệt. Có tự tin con người mới có tự trọng đúng đắn, không bao giờ tự ti. Tự ti khiến cho con người mất hết phấn khích, không vươn lên được. Tự tin và tự trọng gần như là nguồn động lực tinh thần quan trọng nhất, giúp mỗi người hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân”, khắc phục tâm trạng chán chường, đánh mất sự cố gắng vươn lên, sự hưng phấn như hiện nay một số nam nữ thanh niên, sinh viên đang mắc phải. Tự tin sẽ tạo cho con người khả năng sáng tạo rất đáng quý trong “giá trị bản thân”. Mặt khác, cần chú ý đến một xu hướng khác cũng rất nguy hiểm ngày nay là không ít bạn trẻ ảo tưởng, tự thổi phồng giá trị bản thân mà không biết điều này sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy. Trong công trình nghiên cứu kiểm tra chỉ số IQ của thanh niên tại Việt Nam, có 3,6% thanh niên đạt 110 điểm (100 điểm là thang bậc trung bình). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thang điểm IQ thấp, trong đó có nguyên nhân về chính sách, điều kiện làm việc, nhưng có nguyên nhân đáng kể là từ chính chúng ta,… Như vậy, vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, trong nhiều trường hợp, quyết định đối với sự hình thành và phát triển giá trị bản thân là sử dụng, phát huy giá trị bản thân.

Hình thành giá trị bản thân chính là vấn đề hình thành năng lực và phẩm chất của người học. Hiện nay, Nhà nước ta đang tiến tới đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ cụ thể hóa những đổi mới đó tới từng cấp học, trước hết thể hiện ở chuẩn kiến thức, chương trình và sách giáo khoa ở phổ thông và các bậc học khác. Theo đó, nhà trường, gia đình, xã hội, các đoàn thể… phải ra sức chung tay giúp các em hình thành giá trị bản thân. Về phần gia đình, mỗi gia đình có hệ giá trị riêng, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển giá trị bản thân của thành viên gia đình đó. Về phần nhà trường, nhiều trường có nội quy, có khẩu hiệu; các nội quy hay khẩu hiệu này thường nêu một số giá trị (phẩm chất) để học sinh, sinh viên hướng tới… Nói chung, ở Việt Nam chưa có thông lệ đặt ra hệ giá trị chung cho các thành viên một tổ chức, trừ một vài tổ chức, như thiếu nhi, ngành công an…, để các thành viên tham khảo, vận dụng vào “giá trị bản thân”. Năm 2013, Trung ương Đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam có đặt vấn đề “tìm mẫu hình thanh niên thời đại mới”; nhiều ý kiến ở Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng không nên đặt ra “mẫu hình thanh niên”, mà chỉ nên “xác lập các tiêu chí cần có của một thanh niên để tạo động lực phấn đấu”, tức là định hướng giá trị cho các thành viên hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân”. Chẳng hạn, thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận tạm đúc kết thành tám giá trị cơ bản, có ý kiến gọi là giá trị cốt lõi; yêu nước, khát vọng, đạo đức, trách nhiệm, tri thức, sáng tạo, năng động, văn minh. Đây là những giá trị hết sức cần thiết.

Thanh niên ngày nay nếu theo đuổi được các giá trị này, vận dụng vào cuộc sống, bản thân sẽ là tiền đề để có cuộc sống tốt cho bản thân và cho cộng đồng, đất nước. Thật vậy, thế hệ trẻ từ rất sớm phải nung nấu tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, tự hào dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình phức tạp hiện nay, thế hệ trẻ nước nhà đều một lòng để giá trị “yêu nước” lên trên các giá trị cốt lõi, có ý nghĩa trọng đại. Giá trị “yêu nước” là giá trị tổng hợp trong các giá trị bản thân. Bốn giá trị “khát vọng”, “đạo đức”, “trách nhiệm” và “năng động, có thể đưa vào phạm trù của giá trị chung gọi là “tâm lực”; hai giá trị “tri thức” và “sáng tạo” thuộc phạm trù các giá trị “trí”; còn giá trị “văn minh” cũng nên xếp vào phạm trù các giá trị tổng hợp, cần cụ thể hơn, như tác phong công nghiệp, văn hóa ứng xử… Như vậy, vấn đề chỉ còn là quyết định ở mỗi người chọn cho mình những giá trị nào để phát triển bản thân mà thôi!

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s