Giá trị bản thân – Phần cuối


Tuy đến nay chưa có quan niệm thật tường minh về lương tâm cũng như trong thực tiễn chưa có sự hoàn thiện, hoàn mỹ, nhưng mọi người có thể sống có lương tâm bằng “giá trị bản thân”” theo các mức độ khác nhau. Hành xử theo lương tâm sẽ có một xã hội lành mạnh, an sinh xã hội được bảo đảm, con người mới thực hiện được quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Trong cuộc sống, quan niệm về sống, về tự do, về hành phúc ở mỗi người, mỗi thời, mỗi chính thể một khác với nhiều cấp độ, nhiều dạng thức, nhưng có thể khẳng định, sống tự do, hạnh phúc của từng cá nhân không bao giờ tách khỏi cộng đồng, xã hội. Dưới góc độ của triết lý “giá trị bản thân”, cuốn sách khẳng định: bằng giá trị bản thân, từng người tự làm cho mình hạnh phúc, và làm cho người khác và cộng đồng hạnh phúc dù hạnh phúc đó là nhỏ bé hay lớn lao.

Như vậy, giá trị bản thân tích cực là các giá trị do tự mình tạo ra để tự bảo đảm cho cuộc sống tốt đẹp của bản thân và gia đình, cộng đồng, để có thể làm những việc có ý nghĩa cho mình và cho xã hội, khi đó mới có hạnh phúc thật. Từ đó có thể kết luận: giá trị bản thân chính là bản chất (self-nature) của con người. Cũng có thể nói, giá trị bản thân là bản sắc của từng người (self-identity). Có giá trị bản thân mới có thể thực sự “tự thể hiện mình” (self-identification), “tự khẳng định mình” (self-determination), là một giá trị tâm lý, tinh thần rất đặc trưng của con người. Con người luôn luôn có năng lực và nhu cầu thể hiện bản thân tùy theo những cách thức khác nhau, mức độ khác nhau, tùy lứa tuổi, giới tính, hoàn cảnh. Trong thời đại công nghệ thông tin có thể thể hiện mình bằng nhiều cách, như việc có cá nhân cho rằng cứ nói được trên mạng xã hội, như mạng Faceboo là bản thân đã được thể hiện. Quan điểm đó cũng có ý đúng nếu tiếng nói đó phát huy được giá trị bản thân, để thể hiện đời sống, cách sống của chính mình, và đóng góp, cống hiến cho gia đình, cộng đồng, xã hội. Thang giá trị bản thân cống hiến gọi là giá trị đóng góp đó là các giá trị ở bậc cao. Hai bậc giá trị “sống còn” và giá trị “thể hiện mình” đều có ý nghĩa đáng kể với cuộc sống, cùng với các giá trị ở bậc cao hơn, đó là giá trị “đóng góp”, “cống hiến”… cho gia đình, cộng đồng, dân tộc, nhân loại (xem hình 5). Mức độ cống hiến cccó thể khác nhau, hình thức đa dạng, kết quả, mức độ và thời gian được công nhận cũng không giống nhau, nhưng giá trị “cống hiến” đều đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu cao, sự dấn thân, đam mê, say sưa quên mình của con người. Nhìn nhận con người, đánh giá các thành viên trong tập thể hay cộng đồng thường theo giá trị “đóng góp” và “cống hiến” cho cộng đồng đó. Nhưng mặt khác, sự cống hiến hay đóng góp đó được hay không, nhiều hay ít,… là còn tùy thuộc rất nhiều vào cộng đồng xã hội, các chính sách của quốc gia đó.

Tháp giá trị bản thân được xây dựng từ những điều trình bày ở trên, nói vắn tắt, theo luận điểm hiện thực biện chứng: giá trị bản thân là giá trị sống của từng người, do người đó tự tạo dựng, tự phát huy trong những điều kiện thực tế, nói lên sự gắn quyện, gồm: (1) Giá trị sinh thể và giá trị tâm thể, (2) Giá trị vật chất và giá trị tinh thần, (3) Giá trị cá thể và giá trị cộng đồng, xã hội, (4) Giá trị nhận và giá trị cho, (5) Giá trị tồn tại và giá trị bản chất, (6) Giá trị loài cùng giá trị dân tộc, trong sự vận động giữa bản năng và ý thức, vô thức, tiềm thức và ý thức, tự ý thức, bằng cả con đường nhận thức lý trí và trực giác, qua trải nghiệm, vận động trong cuộc sống thực tiễn. Các bài trước đã đề cập đến các cặp giá trị. Nói chung lại, từ giá trị sinh thể đến các giá trị tâm thể gắn quyện vừa thống nhất nhưng cũng có lúc mâu thuẫn, tạo nên giá trị sống còn mà trong tâm lý học thường nói đây là mối quan hệ giữa cái sinh vật và cái xã hội trong hệ giá trị bản thân. Ở con người bình thường trong điều kiện bình thường, cái sinh vật và cái xã hội không tách biệt nhau, ví dụ, ăn bằng đũa gọi là “”văn hóa đũa”, bản năng dinh dưỡng, và bản năng bảo toàn nòi giống là hai bản năng khởi thủy đều mang tính xã hội, trong triết học gọi là bản năng ý thức hóa, khi vượt qua ngưỡng “xoắn thừng”. Cũng có thể thấy giá trị sinh thể là cơ sở vật chất của các giá trị hoạt động (vui chơi, nhận thức, lao động, nghỉ ngơi…), có hoạt động để bảo đảm giá trị sinh tồn, có hoạt động thể hiện bản thân và các giá trị ở tầm cao, có thể nói, các giá trị ở tầm cao đều có cơ sở là giá trị sống còn, giá trị sống còn vừa mang tính chất của giá trị sinh thể vừa mang tính chất của giá trị tâm thể. Hai sợi thừng xoắn cũng là ranh giới giữa bản năng và ý thức – ranh giới giữa tính tích cực và tính tiêu cực (giá trị và phản giá trị) của các giá trị bản thân với tính xã hội giữ vai trò chủ đạo.

Giá trị: trong tài liệu nước ngoài có hai tác giả người Mỹ trong mục “giá trị học ngày nay”, Clare Graves và Don Beck có một bảng xếp tám giá trị theo màu để dễ khảo sát – không gọi là “Giá trị bản thân” và chưa xếp thành thang giá trị bản thân, tuy các giá trị đều là “Tôi…”. Tám giá trị “Tôi” của hai tác giả như sau: (1) Tôi tồn tại (màu be): các động lực sinh vật và cảm nhận vật lý; (2) Tôi tin (màu tía): niềm tin của tôi; (3) Tôi kiểm soát (màu đỏ): có sức mạnh đủ kiểm soát và hơn người; (4) Tôi thích (màu xanh): phục tùng người trên, tuân theo luật lệ; (5) Tôi đạt thành tựu (màu da cam): dùng các nguồn lực đạt kết quả; (6) Tôi chia sẻ (mày xanh lá cây): quan tâm đến người khác, cuộc sống nhân văn; (7) Tôi học (màu vàng): tự lập, biết mình (self-knowledge), giá trị bản thân (self-worth), thích nghi với cuộc sống; (8) Tôi quan hệ (màu xanh lam): quan hệ nói chung, trong đó có quan hệ với môi trường. Bảng liệt kê này có thể vận dụng vào tìm hiểu hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị và định hướng giá trị. Hai tác giả xếp tám giá trị “Tôi” theo nhứ tự:

8/ Tôi quan hệ,

7/ Tôi học,

6/ Tôi chia sẻ,

5/ Tôi đạt thành tựu,

4/ Tôi thích nghi,

3/ Tôi kiểm soát,

2/ Tôi tin,

1/ Tôi tồn tại.

4/ Tính xã hội trong giá trị bản thân

Nói về yếu tố xã hội trong mục “giá trị bản thân”, có hai phía: Thứ nhất, một phía thuộc về chủ thể, tính xã hội, trách nhiệm xã hội tác động như thế nào đối với hệ giá trị ở từng người…, trong các giá trị bản thân. Nền giáo dục của chúng ta có thể đóng góp vào việc này: nhà trường, gia đình, xã hội phải đoạn tuyệt triết lý giáo dục hư văn, khoa cử, ứng thí và quán triệt triết lý thực học, thực nghiệp, giúp mỗi người học mang lại cho mình các giá trị bản thân, hình thành và phát triển năng lực có ích cho mình và thực sự có tính xác hội thì mới hy vọng đổi mới toàn diện và căn bản nền giáo dục nước nhà, như Đại hội XI của Đảng (năm 2011) vừa quyết định. Hy vọng rằng, quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo chuyển mình theo tinh thần đó, và toàn xã hội, nhất là các vị phụ huynh học sinh, sinh viên, các thế hệ học sinh, sinh viên phấn đấu theo hướng đó, phải thật sự đoạn tuyệt tâm lý khoa cử. Bản thân người học phải phấn đấu theo hướng hình thành, phát huy giá trị bản thân. Đồng thời, xã hội, cộng đồng có tôn trọng giá trị của con người không, có tạo điều kiện giáo dục – đào tạo thuận lợi cho các thành viên theo hướng vừa nói không, có tạo điều kiện để con người phát triển bền vững không, có chế độ, chính sách phát triển tài năng không, có trọng dụng nhân tài không… là phụ thuộc vào chế độ, chính sách phù hợp để trọng dụng người tài, để sử dụng tốt được nguồn lực trí tuệ của dân tộc, nhất là thế hệ trẻ. Nếu không có câu trả lời thỏa đáng thì ngay việc hình thành giá trị bản thân vẫn còn rất nhiều khó khăn. Vận dụng những bài học quý báu từ xa xưa của cha ông ta về việc trọng dụng hiền tài vào công cuộc đổi mới, nguồn nhân lực nước ta sẽ được chú trọng hơn, đội ngũ trí thức được trọng dụng, giữ vai trò thiết yếu, góp phần cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nước nhà giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta có ý chí cách mạng, có quyết tâm chính trị, có giá trị truyền thống, nếu phát huy được trí tuệ của dân ta, tài năng của con người Việt Nam, cũng như “giá trị bản thân” của từng người Việt Nam, nhất định thực hiện được “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” – ba giá trị quốc gia, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra cùng với quốc hiệu nước nhà sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày nay vẫn là những đòi hỏi bức xúc. Như vậy, các giá trị của từng người luôn gắn liền với xã hội, thành “vốn người”, “vốn xã hội”, trong hệ giá trị của cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Giá trị bản thân thông thường bao gồm một số giá trị, như đã trình bày, ta gọi là hệ giá trị của một con người bao gồm giá trị cá thể, giá trị cá nhân và giá trị nhân cách, đều phải mang tính xã hội, và muốn phát huy đạt hiệu quả, nhất thiết cần một môi trường giá trị xã hội thuận lợi. Tính xã hội càng cao, phục vụ xã hội càng nhiều, giá trị bản thân càng có trọng lượng, nhân cách càng cao.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s