Việt Nam và Mỹ: Quan hệ đối tác “toàn diện” nhưng không phải là “chiến lược” – Phần IV


Lần đầu tiên trong Tuyên bố chung của hai nước đã trực tiếp đề cập đến những vấn đề tại Biển Đông, trong đó Tổng thống Mỹ đã thể hiện những quan điểm trùng với quan điểm của Việt Nam về những vấn đề tranh chấp với Trung Quốc. Liên quan đến các vấn đề Biển Đông, trước đó Hoa Kỳ đã nhiều lần tuyên bố rằng, Hoa Kỳ không chia sẻ quan điểm với Trung Quốc về những yêu sách chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc và phản đối những nỗ lực của Trung Quốc gây áp lực đối với các công ty Mỹ tiến hành các hoạt động kinh tế hợp pháp ngoài khơi Việt Nam. Đặc biệt, Hoa Kỳ phản đối bất kỳ nỗ lực ngăn cản tự do hàng hải nào tại Biển Đông. Hai người đứng đầu nhà nước Việt Nam và Hoa Kỳ tái khẳng định sự ủng hộ một giải pháp hòa bình những tranh chấp ở Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm tất cả các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

Nhìn chung, quan điểm của Mỹ về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông có lợi cho lợi ích của Việt Nam. Mỹ tuyên bố trung lập trong các tranh chấp, nhưng lại hỗ trợ tích cực những nỗ lực đa phương của tất cả các nước ASEAN nhằm duy trì hòa bình và an ninh trong khu vực để bảo đảm tự do hàng hải, giải quyết tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước năm 1982. Đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam trong vấn đề này là sự khẳng định của các công ty dầu mỏ Mỹ hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Từ Tuyên bố chung thông qua ngày 25 tháng 7 năm 2013 thể hiện rõ rằng, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam tại Biển Đông, phớt lờ mọi sự phản đối và cảnh báo của Trung Quốc. Một loạt tổng công ty và doanh nghiệp của hai nước đã ký kết những thỏa thuận có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam như: Bản ghi nhớ giữa Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ về hỗ trợ thương mại và đầu tư trong ngành công nghiệp dầu khí; Hiệp định khung giữa Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam với Exxon Mobile tiếp tục thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi Việt Nam trong ranh giới vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; thỏa thuận hợp tác giữa Tổng công ty thăm dò và khai thác dầu (PVEP) với Công ty dầu mỏ Murphy Oil của Mỹ; Bản ghi nhớ giữa Công ty Bảo hiểm nhân thọ Metropolitan Life (Metlife) và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, trách nhiệm của Bộ Tài chính Việt Nam thành lập một công ty quản lý quỹ của công ty bảo hiểm ACE.

5/ Trong hợp tác quân sự – kỹ thuật không có thay đổi

Về hợp tác quân sự, trong Tuyên bố chung chỉ nói rằng, hai bên sẽ duy trì tiếp xúc phù hợp với tinh thần Biên bản ghi nhớ năm 2011 về tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực quốc phòng. Điều đó hầu như không đem lại gì cho Việt Nam. Vào thời gian gặp gỡ với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2008, Tổng thống Bush đã tuyên bố rõ hơn rằng, “Hoa Kỳ ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ, độc lập và chủ quyền của Việt Nam”. Sự ủng hộ không có nghĩa là nghĩa vụ phải bảo vệ sự toàn vẹn. Nhưng hi đó giới truyền thông Việt Nam đã tỏ ra rất hài lòng về sự kiện này. Lần này đã không có những tuyên bố rùm beng về sự kiện trên.

Chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Việt Nam đã không đem lại những thay đổi đáng kể về nội dung và hình thức hợp tác quân sự song phương. Giống như trước đây, người Mỹ yêu cầu được tự do hơn ra vào các hải cảng của Việt Nam và tiếp tục phát triển hợp tác quân sự, nhưng vẫn không dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí quân sự. Trong cuộc trả lời phỏng vấn AP ngay trước chuyến thăm, Chủ tịch Sang đã kêu gọi Mỹ dỡ bỏ hạn chế về bán vũ khí cho Việt Nam. Đây là nhiệm vụ lâu dài của các nhà ngoại giao và chính trị gia Việt Nam. Tuy nhiên, Chủ tịch Sang đã yêu cầu bãi bỏ hạn chế về bán vũ khí không mạnh mẽ lắm so với yêu cầu dỡ bỏ những rào cản chống bán phá giá trong thương mại. Rõ ràng, Việt Nam nhận thức được rằng, việc bán vũ khí sẽ phải kèm theo những chỉ dẫn của Mỹ và điều kiện bổ sung khác. Trong khi đó, Việt Nam đã có một đối tác tin cậy trong hợp tác kỹ thuật – quân sự là nước Nga. Vì vậy, dường như tại Hà Nội người ta cho rằng, việc thay đổi triệt để các nhà cung cấp vũ khí hiện đại không có nhiều ý nghĩa.

Phía Hoa Kỳ đã khẳng định tất cả các thỏa thuận trước đây về việc giúp loại bỏ những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng trong cuộc chiến tranh trước kia như việc phá hủy bom mìn còn sót lại, cũng như khắc phục hậu quả dioxin do không quân Mỹ sử dụng hàng loạt tại Việt Nam.

Cuộc đối thoại chiến lược cấp thứ trưởng quốc phòng lần thứ 4 đã được tiến hành vào tháng 10 năm 2013 tại Washington. Hia bên đã thông qua kế hoạch hợp tác cho năm 2014, trong đó ngoài tất cả các hình thức cũ của hợp tác quân sự, Biên bản ghi nhớ về hiểu biết lẫn nhau trong hợp tác giữa Lực lượng bảo vệ bờ biển (trước đó là Cảnh sát biển Việt Nam) đã được ký kết. Sự hợp tác giữa các tổ chức và trường quân sự và hải quân của hai nước đã được mở rộng. Tuy nhiên, lần này Việt Nam vẫn không chấp thuận đề nghị tiến hành tập trận chung của Mỹ. Vẫn duy trì hạn chế việc tàu chiến Mỹ ghé vào các cảng của Việt Nam chỉ một lẫn mỗi năm. Và không áp dụng điều này cho căn cứ hải quân Việt Nam tại Vịnh Cam Ranh. Việt Nam vẫn chưa đáp ứng đề nghị mở một văn phòng hợp tác quân sự thuộc Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, mà tháng 6 năm 2012 cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã đề xuất.

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng VIệt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, sau cuộc hội đàm, tuyên bố rằng, mặc dù Hoa Kỳ đã đề nghị Việt Nam hợp tác tích cực trong việc khắc phục hậu quả chiến tranh, nhưng các biện pháp được áp dụng vẫn chưa đủ so với quy mô thiệt hại do Mỹ đem lại. Thượng tướng còn đề cập tới việc cần xây dựng lòng tin chiến lược giữa lãnh đạo cấp ca của hai nước. Và đó là một ám chỉ rõ ràng cho sự miễn cưỡng của Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam.

Việt Nam tìm cách phát triển hợp tác quân sự với Hoa Kỳ chỉ ở mức khi sự hợp tác đó phù hợp với lợi ích quốc gia trong việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có thể mong đợi các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ và Việt Nam tiếp tục chọn lựa cẩn thận các cách thức thúc đẩy quan hệ quân sự của mình trong những giới hạn mà họ đã vạch ra. Và tốc độ của sự thúc đẩy theo con đường này sẽ phụ thuộc chủ yếu vào cách thức mà Trung Quốc thể hiện mình tại Biển Đông.

6/ Kinh tế – động lực thúc đẩy phát triển quan hệ

Kết quả của chuyến thăm đã khẳng định rằng, hai bên đã coi hợp tác kinh tế là nền tảng và động lực thúc đẩy các mối quan hệ giữa hai nước. Hai bên nhất trí khuyến khích các doanh nhân và nhà đầu tư Mỹ tiếp tục hoạt động tại Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam, như công nghệ cao, năng lượng, chế tạo máy, môi trường, công nghệ thông tin, hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển nguồn nhân lực… Phía Việt Nam đề nghị đẩy nhanh sự công nhận đầy đủ Việt Nam là nền kinh tế thị trường, loại bỏ các rào cản chống bán phá giá với hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ. Nhưng người Mỹ không đồng ý, với lý do Việt Nam vẫn duy trì vai trò quyết định của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam. Hoa Kỳ hứa sẽ trở lại vấn đề này tùy thuộc vào tiến hành cải cách ở Việt Nam.

Báo chí Mỹ coi thành tựu chủ yếu của Obama trong các cuộc đàm phán trên là việc đến cuối năm 2013 Việt Nam có trách nhiệm hoàn thành đàm phán và ký một thỏa thuận về việc thành lập đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) – khu vực tự do thương mại lớn nhất trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, mà không có Trung Quốc. Hiệp định thương mại ưu đãi này cạnh tranh một cách rõ ràng với Đối tác kinh tế toàn diện ở Đông Á (RCEP) mà Trung Quốc thúc đẩy một cách tích cực với sự tham gia của nhóm ASEAN + 3, và sau đó là Ấn Độ, Australia và New Zealand, nhưng hông có Mỹ.

Ban lãnh đạo Việt Nam muốn Tổng thống Mỹ hứa hẹn tính tới những đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam khi gia nhập TPP, VIệt Nam đồng ý với Mỹ gia nhập TPP với hy vọng Mỹ sẽ chấp thuận Việt Nam gia nhập muộn hơn và không bị ràng buộc bởi những yêu cầu nghiêm ngặt của TPP. Việt Nam tham gia TPP với hy vọng những lợi ích thu được sẽ vượt quá tất cả các chi phí. Trước hết, việc tham này có nghĩa là thị trường lớn nhất của Mỹ, Nhật Bản và Australia sẽ được mở cửa. Nhiều rào cản đối với xuất khẩu của Việt Nam sẽ được dỡ bỏ. Nhưng trong cộng đồng doanh nghiệp và trên các phương tiện truyền thông Việt Nam một cuộc tranh luận về những hậu quả tiêu cực có thể có của bước đi này vẫn đang tiếp diễn.

Hơn 20 vòng đàm phán đã diễn ra, nhưng việc ký kết thảo thuận bị trì hoãn không chỉ vì sự khác biệt quan điểm của các nước tham gia đàm phán, mà còn vì những mâu thuẫn tại chính Hoa Kỳ. Tháng Giêng năm 2014, Quốc hội đã ngăn chặn nỗ lực của Tổng thống đạt được việc sớm phê chuẩn hiệp ước. Vì vậy quá trình này bị trì hoãn. Tuy nhiên, việc thành lập TPP sẽ đáp ứng những lợi ích chiến lược của Mỹ. Khu vực thương mại tự do trong khuôn khổ TPP sẽ là một thay thế có sức mạnh cho các khái niệm “châu Á hóa châu Á” và việc thành lập khối liên kết ASEAN +3 mà không bao gồm các nước thành viên ngoài châu Á. Mặc dù vậy một số nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, vẫn tham gia vào các cuộc đàm phán về hai dự án hội nhập trong khu vực châu Á – Thái BÌnh Dương.

(còn tiếp)

Người dịch: Đỗ Minh Cao

Nguồn: TN 2014 – 45 & 46

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s