Con sông – Phần IV


Hơn nữa, các ngân hàng châu Âu ngày càng mắc sâu hơn vào tấm lưới không chỉ của các tổ chức tài chính Mỹ mà còn của lẫn nhau. Chỉ cần một bộ phận của cái gọi là hệ thống tài chính xuyên Đại Tây Dương gặp rắc rối là nó sẽ nhanh chóng lan sang tất cả các bộ phận khác sau khi Lehman sụp đổ. Một vài ngân hàng châu Âu, nổi bật nhất là Northern Rock của Anh còn phá sản trước cả thời điểm 15/9/2008. Sau đó, khủng hoảng ngân hàng cũng tương tự như ở Mỹ đã bùng nổ trên khắp châu lục.

Các nước châu Á đã tránh được thảm họa tài chính của châu Âu và Mỹ. Về tổng thể, các ngân hàng ở đây vẫn đi theo chính sách vay và cho vay kiểu cổ điển, thận trọng. Lý do chính khiến họ đi theo chủ nghĩa thận trọng tương đối là tấm gương tệ hại của cuộc khủng hoảng cuối những năm 1990 khiến các ngân hàng châu Âu đột ngột rút vốn, tỷ giá tăng cao làm chi phí nợ tăng, và suy thoái nghiêm trọng xảy ra. Thực tế là khủng hoảng châu Á có đóng góp vào bong bóng nhà ở Mỹ. Bị thiệt hại do các nhà đầu tư tháo chạy khỏi đồng nội tệ, các nạn nhân của cuộc khủng hoảng – trong đó có Trung Quốc, quốc gia có đồng tiền không thể chuyển đổi nên không bị ảnh hưởng, nhưng vẫn sợ hãi ở một mức độ nhất định – đã quyết định phải tích trữ một lượng lớn các ngoại tệ mạnh để tự bảo vệ mình. Đây là lý do chính khiến các nước châu Á, nhất là Trung Quốc có thặng dư thương mại và tiền để quay lại đầu tư vào Mỹ.

Mặc dù các nước châu Á đã hành động thận trọng về tài chính, nhưng họ cũng không hoàn toàn thoát được tác động của khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ Mỹ. Như những người đang đứng gần một vụ tai nạn ô tô, họ cũng bị những mảnh vụn văng ra làm bị thương. Họ phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu, phần lớn trong số hàng hóa xuất khẩu này là đến bộ ba phương Tây, nhất là Mỹ. Khi các nước phương Tây lâm vào khủng hoảng, cầu hàng nhập khẩu từ châu Á giảm mạnh, làm châu Á cũng bị khủng hoảng theo. Người tiêu dùng phương Tây nghèo hơn, bắt đầu tiết kiệm thay vì chi tiêu. Công nhân châu Á sản xuất các sản phẩm giày, đồ chơi, thiết bị điện tử không bán được cho người phương Tây nên bị thất nghiệp. Với cuộc khủng hoảng này, cầu hàng hóa sản phẩm trên toàn thế giới cũng như thu nhập của các nước phụ thuộc vào xuất khẩu, đặc biệt là dầu mỏ đều sụt giảm mạnh.

Tương tự nguyên nhân và hậu quả, phản ứng của các chính phủ trước thảm họa kinh tế, tài chính cuối năm 2008 cũng có tính toàn cầu. Các quốc gia bị ảnh hưởng nhận thấy quy mô của khó khăn trước mắt, nên đã thay nhóm G8 gồm các nước lớn nhất trong bộ ba phương Tây, Nga và đại diện của Liên minh châu Âu, họ thường niên từ năm 1974 đến nay để thảo luận các vấn đề Kinh tế quốc tế bằng nhóm G20, với các thành viên đại diện từ châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latin cũng như các nước Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản.

G20 đã có một cuộc hội nghị thượng đỉnh đột xuất ở Washington vào tháng 11/2008, hai hội nghị khác vào năm 2010 và 2011 và sau đó là nhất trí họp hàng năm. Thông cáo chung của hội nghị khẳng định các nước đoàn kết với nhau để đối phó với những khó khăn về kinh tế mà họ cùng đối mặt. Thực tế đa phần là các chính phủ có các chính sách độc lập hơn là phối hợp với nhau. Tuy nhiên, phản ứng của họ trước cơn nhồi máu cơ tim tài chính và cúm kinh tế có nhiều điểm chung vì họ đều rút ra bài học từ các cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế trong quá khứ. Bài học là những đơn thuốc chính trị cho căn bệnh kinh tế đều thể hiện dưới hình thức can thiệp của chính phủ.

Để giải quyết khủng hoảng tài chính, các nước đều dựa và quan điểm của các tác giả người Anh thế kỷ 19 Walter Bagehot, một trong những biên tập viên đầu tiên của tạp chí The Economist. Trong cuốn sách Lombard Street xuất bản năm 1873, Bagehot lập luận rằng để ngăn cản sự hoảng loạn trong lĩnh vực ngân hàng, ngành mà nền kinh tế thị trường tự do từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 21 đều rất nhạy cảm, thì chính phủ cần đóng vai trò “người cho vay cuối cùng” và tạo lập đủ nguồn vốn để các ngân hàng có thể đảo ngược được tâm lý tháo chạy là cái luôn đe dọa phá sập cả hệ thống.

Vì vậy, chính phủ Mỹ đã áp dụng những biện pháp mạnh chưa từng có tiền lệ để dập tắt ngọn lửa hoảng loạn trong ngành tài chính. Ngân hàng trung ương Mỹ, tức Cục Dự trữ Liên bang đã làm cho nền kinh tế ngập trong tiền bằng cách hạ lãi suất xuống gần mức 0 và bằng chính sách tạo tiền có tên là “nới lỏng định lượng”. FED mở cửa sổ chiết khấu không chỉ với các ngân hàng thương mại như mọi khi mà còn cả với các tổ chức tài chính khác, thậm chí cả các ngân hàng nước ngoài.

Khi các quỹ thị trường tiền tệ khổng lồ và vốn được coi là tuyệt đối an toàn ở Mỹ rơi vào nguy hiểm, họ cũng được chính phủ bảo lãnh. Các quỹ này đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống hàng ngày: họ cung cấp vốn đầu tư ngắn hạn cho các công ty. Vì lo ngại dòng vốn này sẽ bị ngắt quãng nên một mặt chính phủ Mỹ cung vốn, mặt khác lần đầu tiên họ mua thương phiếu – giấy nhận nợ ngắn hạn – của các công ty trong nước.

Xa hơn, chính phủ Mỹ còn kiểm soát một số công ty tài chính lớn, không phải tất cả đều là ngân hàng, trong đó có Fannie Mae, Freddie Mac và người khổng lồ trong lĩnh vực bảo hiểm AIG. Quốc hội Mỹ đồng ý chi 700 tỷ USD cho Chương trình giải cứu tài sản xấu (TARP), vốn có mục đích ban đầu là mua lại các khoản nợ xấu làm ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán, giảm khả năng cho vay của các ngân hàng. Chính phủ quyết định bơm tiền trực tiếp vào ngân hàng, buộc các ngân hàng lớn nhất phải nhận số vốn này và đổi lại bằng cổ phần, qua đó, quốc hữu hóa một phần hệ thống ngân hàng. Các biện pháp nói trên đã khiến chính phủ Mỹ có vai trò và quyền kiểm soát đối với hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế trong nước lớn chưa từng có trong lịch sử thời bình.

Chính phủ các nước châu Âu cũng có động thái tương tự. Họ cũng bơm tiền vào nền kinh tế, cũng giành quyền kiểm soát các tổ chức tài chính lớn gặp khó khăn. Tương tự như ở Mỹ, chính phủ Anh thực hiện chính sách “nới lỏng định lượng”, buộc hai tổ chức tài chính lớn trong nước phải sáp nhập và bơm 87 tỷ USD vốn vào các ngân hàng lớn nhất. Vào chính tháng mà Lehman sụp đổ, chính phủ Đức và ba nước Bỉ, Hà Lan, Luxembourg đã giải cứu một phần hệ thống ngân hàng trong nước. Pháp, Tây Ban Nha, Ireland và Thụy Sĩ sau đó cũng tiếp bước.

Việc chính phủ áp dụng các chính sách nói trên cho thấy khi đối mặt với khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì can thiệp mạnh nhất vẫn dừng ở cấp quốc gia. Nhưng ở thời điểm xấu nhất của cuộc khủng hoảng tài chính, khi hệ thống tài chính rung chuyển bởi Lehman phá sản thì các chính phủ bắt đầu phối hợp hành động. Ngày 8/10/2008, người đứng đầu các ngân hàng trung ương Mỹ, Anh, Liên minh châu Âu, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Canada đều đồng thời cắt giảm lãi suất 0,5% còn Trung Quốc cắt giảm 0,27%.

Những chính sách đặc biệt đã cầm được máu – nếu nói theo ngôn ngữ y học. Hệ thống tài chính xuyên Đại Tây Dương không phục hồi ngay lập tức, nhưng cũng không sụp đổ. Cơn bão tiền chính phủ đổ vào các ngân hàng và các tổ chức tài chính đã giúp nền kinh tế tránh được cơn tai biến nguy hiểm đến tính mạng, nhưng cũng là một trải nghiệm đáng sợ, tệ hại, chỉ là không đến mức hấp hối. Tính quyết đoán của giới chính trị đã thể hiện một cách không thể thuyết phục hơn. Các can thiệp chính trị đã giúp nền kinh tế thế giới tránh được thảm họa.

Những can thiệp quyết đoán của giới chính trị tuy không thể ngăn chặn nhưng cũng giảm thiểu nguy cơ xảy ra suy thoái tiếp sau khủng hoảng tài chính. Trong trường hợp này, các chính phủ cũng lại áp dụng giải pháp của một nhà kinh tế học nổi tiếng trước kia, John Maynard Keynes. Năm 1936, Keynes xuất bản cuốn Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ, phần nào đó là cuốn sách phê phán chính sách kinh tế thời kỳ Đại Khủng hoảng. Ông cho rằng khi các hoạt động kinh tế sụt giảm nghiêm trọng, chính phủ không thể đơn giản là lười nhác chờ đợi nền kinh tế tự phục hồi trở lại – một quan điểm được chấp nhận là chuẩn mực vào những năm 1930. Theo Keynes, chính phủ nên vay tiền và chi tiêu để tạo cầu, dẫn tới tăng sản lượng và việc làm. Các nhà kinh tế học thời sau, nổi bật là nhà kinh tế người Mỹ được giải Nobel Milton Friedman cho rằng Đại Khủng hoảng xảy ra nghiêm trọng như vậy là do các ngân hàng trung ương quyết định cắt giảm cung tiền trong khu lẽ ra họ phải tăng cung tiền trong nước.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s