Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần V


Những gì làm cho Nhật Bản cũng như các quốc gia Đông Nam Á phải lo lắng là sự cố tình lừa dối của Trung Quốc (những thông báo của Giang Trạch Dân chỉ là những bảo đảm có thẩm quyền nhất và mới nhất cho ý đồ hòa bình) và dường như quyết tâm của Trung Quốc nắm quyền kiểm soát Biển Nam Trung Hoa bất chấp dư luận trong khu vực không hề thay đổi. Mặc dù các tham vọng của Trung Quốc tập trung vào các đảo nhỏ và các bãi đá ngầm, họ cũng đòi hỏi quyền – mà cho tới bây giờ, họ vẫn nói là họ sẽ không áp dụng – “điều chỉnh” hoạt động của tàu bè qua lại trên vùng biển đó. Tất nhiên, đối với Nhật Bản, việc Trung Quốc áp dụng “quyền” đó buộc Nhật Bản phải có sự điều chỉnh các con đường buôn bán quan trọng nhất của mình. Nhưng viễn cảnh biển Nam Trung Hoa bị biến thành ao nhà của Trung Quốc đã có những ý nghĩa nghiêm trọng đối với đầu tư của Nhật Bản. Một lượng tài sản khổng lồ của Nhật Bản được đầu tư ở các quốc gia Đông Nam Á ở giáp ranh con đường hàng hải mà chẳng bao lâu nữa có thể sẽ bị Trung Quốc kiểm soát. Ngược lại, Nhật Bản thậm chí không có quyền hợp hiến để cử tàu chiến tới Biển Nam Trung Hoa bảo vệ cho đầu tư của họ tại đó. Thay cho điều đó, họ phải phụ thuộc vào ý muốn giúp đỡ của Mỹ, cử các lực lượng quân đội Mỹ tới bảo vệ cho các công ty Sony và NEC. Như một quan sát viên đã nhận xét, trước đây, chưa bao giờ có một quốc gia mạnh và quan trọng nào lại cho phép những lượng tài sản lớn của mình lưu thông ở nước ngoài mà không có khả năng bảo vệ.

Cũng trong năm 1995, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đẩy mạnh các cuộc tập trận ở Triều Tiên, nơi họ đã thể hiện thái độ chống Nhật rất rõ ràng. Trong khi tình cảm chống Nhật đang biến mất khỏi Đông Nam Á, thì nó vẫn dữ dội trong người Triều Tiên. Cảm nhận của họ về cuộc xâm chiếm tàn bạo và kéo dài của Nhật Bản trên đất nước họ, từ 1895 tới 1945, vẫn còn sâu đậm, thậm chí ở cả những người được sinh ra sau Thế chiến II. Trong một cuộc viếng thăm cấp nhà nước có tính lịch sử tới Hàn Quốc tháng 11 năm 1995, cứ có cơ hội là Giang Trạch Dân lại kêu gọi thái độ thù địch của người dân Triều Tiên đối với Nhật Bản. Gợi lại ký ức về chế độ thuộc địa Nhật Bản ở Triều Tiên, Giang Trạch Dân đã cùng Tổng thống Hàn Quốc lên án lịch sử cuộc xâm lược của Nhật Bản, và Giang Trạch Dân còn gợi ý thêm rằng bọn “quân phiệt” Nhật Bản vẫn là một mối đe dọa cho sự tồn tại của cả Trung Quốc lẫn Triều Tiên.

Đối với phương Tây, thái độ của Giang Trạch Dân ở Triều Tiên dường như là biểu hiện lành mạnh thiện ý của Trung Quốc nhằm mở rộng phạm vi các mối quan hệ tốt đẹp của mình. Tuy nhiên, thực ra, thái độ của Trung Quốc ở Triều Tiên, vốn dựa trên giả thiết rằng cuối cùng chế độ Bình Nhưỡng sẽ sụp đổ dần, lại kích thích cơn ác mộng của Nhật Bản: một nước Triều Tiên tái thống nhất, được trang bị vũ khí hạt nhân, nghiêng về Trung Quốc và chống lại Nhật Bản. “Địa chính trị học Nhật Bản đã không thay đổi qua nhiều thế kỷ”, Hisahiko Okazaki, một nhà phân tích chiến lược Nhật Bản, đã nói: “Tầm quan trọng chiến lược của Bán đảo Triều Tiên vẫn tồn tại như nó đã luôn luôn tồn tại”. Nếu Trung Quốc có ảnh hưởng quyết định ở một nước Triều Tiên tái thống nhất và được trang bị vũ khí hạt nhân, nó sẽ có tác động to lớn đối với Nhật Bản, trên thực tế là buộc Nhật Bản phải tìm kiếm sự bảo vệ của Trung Quốc để chống lại Triều Tiên.

Phương án giải quyết của Mỹ cho vấn đề này là đề nghị các cuộc đàm phán bốn bên giữa hai nước Triều Tiên cũng như Mỹ và Trung Quốc. Cho đến nay lời đề nghị này chưa được thực hiện ở bất cứ đâu. Trong lúc này, có những báo cáo liên tục về việc Trung Quốc đang bí mật tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc giữa Bắc và Nam Triều Tiên, xúc tiến chương trình nghị sự của mình với tư cách là một đấu thủ bên ngoài nhưng có tính quyết định đối với bán đảo. Bất chấp các tài sản quân sự của mình trên bán đảo, dường như Mỹ không có đối sách nào, và điều này đã làm Nhật Bản càng lo ngại hơn bao giờ hết.

Đồng thời, theo nhận định của bất cứ nhà chiến lược nào, mối quan hệ thân thiết đang tăng lên giữa Trung Quốc với Nga (trong khi mối quan hệ đó không nhằm vào Nhật Bản một cách rõ rệt), lại đi ngược lại các lợi ích của Nhật Bản. Nó làm lệch thêm cán cân lực lượng ở Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc và chống lại các lợi ích của Nhật Bản và Mỹ. Mặc dù phần nào do sự trùng hợp ngẫu nhiên, và không phải do quan hệ nhân quả, mối giao kết thân thiện Nga – Trung dường như đang đi song song gần gũi với mối giao kết thân thiết Nhật – Mỹ. Quả vậy, năm 1996, Tổng thống Nga Boris Yeltsin và Giang Trạch Dân đã tuyên bố một hiệp ước chiến lược Nga – Trung và trong cùng tháng Tư đó, Clinton và Hashimoto đã công bố tuyên bố chung của họ ở Tokyo.

Đối với Nhật Bản, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan được xem như đi ngược lại bối cảnh này, Đài Loan có tầm quan trọng quyết định đối với an ninh Nhật Bản. Thực ra nó đã góp phần bảo vệ sườn phía Nam của Nhật Bản. Từ cuộc chiến tranh Triều Tiên, các mối quan hệ khăng khít với Mỹ và các chính sách ủng hộ buôn bán, ủng hộ phương Tây đã đưa lại cho Đài Loan một chỗ đứng đáng khích lệ. Một điều hầu như bao giờ cũng bị bỏ quên hoàn toàn là Đài Loan còn bảo vệ các cửa ngõ phía Đông và Biển Nam Trung Hoa – Đài Loan chia sẻ với Trung Quốc eo biển Đài Loan, và chia sẻ với Philippines đường lạch Bashi của eo biển Luzon. Sự quan tâm ít ỏi đối với thực tế chiến lược quan trọng này là do cam kết của Đài Loan về thương mại và tự do đi lại trên đường biển – điều đó có nghĩa là sẽ không bao giờ có chuyện Đài Loan phong tỏa các tuyến đường hàng hải đó. Nhưng viễn cảnh về quyền kiểm soát này của Trung Quốc đối với Đài Loan, một viễn cảnh mà chắc chắn người ta phải nghĩ tới do cuộc đụng độ trên eo biển Đài Loan vào năm 1996, đã buộc các nhà chiến lược Nhật Bản phải đánh giá lại từ đầu tầm quan trọng chiến lược vô cùng to lớn của Đài Loan đối với Nhật Bản.

Trong bất cứ trường hợp nào, các bài phát biểu và các sự kiện khác nhau này, diễn ra trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, đã dẫn tới một số cam kết Nhật – Mỹ. Đặt cạnh nhau, các cam kết đó thể hiện một sự gia tăng đáng quan tâm về hợp tác quân sự giữa hai nước:

+ Tháng Hai năm 1996, Mỹ và Nhật Bản đã ký kết một biên bản ghi nhớ liên quan đến việc chia sẻ các thông tin chi tiết về phòng phủ bằng tên lửa điều khiển từ xa. Tháng Tư năm 1995, Cục phòng vệ Nhật Bản đã thành lập Cơ quan nghiên cứu phòng vệ bằng tên lửa đạn đạo, nhiệm vụ của nó là quyết định có triển khai hay không triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD.

+ Tháng Tư năm 1996 đã có tuyên bố an ninh chung.

+ Tháng Năm năm 1996 chính phủ Nhật Bản đã xem xét việc xây dựng các đường lối chỉ đạo mới cho Nhật Bản “để hành động phối hợp với Washington trong việc giải quyết tất cả các trường hợp khẩn cấp… xảy ra ở trong khu vực xung quanh”. Đây là một bước phát triển của tuyên bố tháng Tư. Một tờ báo đã đưa tin rằng Nhật Bản đang tìm cách nói thích hợp để tìm lý do chính đáng cho việc Nhật Bản đảm nhận vai trò quân sự tích cực hơn nữa bên cạnh Mỹ nếu chiến tranh xảy ra.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s