Mỹ và chính sách “Balkan hóa” khu vực Mỹ Latinh – Phần đầu


Aram Aharonian

Chiến lược không đổi của các chính phủ kế tiếp nhau tại Mỹ là chia cắt vĩnh viễn lãnh thổ Mỹ Latinh-Caribe, bao gồm trong đó những nỗ lực hiện đang khá thành công của họ trong việc phá hoại các tiến trình hội nhập tự chủ của khu vực như Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur), Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (Unasur) và Cộng đồng các nước Mỹ Latinh và Caribe (Celac).

Quá trình “Balkan hóa” Mỹ Latinh là một đặc trưng của cuộc tranh giành địa chính trị hiện tại và ngày càng dễ nhận ra tại tất cả các không gian hội nhập. Washington đang tìm cách làm thay đổi logic liên kết khu vực nhằm tạo ra một trật tự địa chính trị mới tại Mỹ Latinh, một bước xoay trục mang tính quyết định trong vài năm tới khi người ta thấy rõ hơn những chuyển biến của khu vực này không chỉ trong nội tại mà còn cả trong quan hệ đối ngoại. Quá trình “Balkan hóa” Mỹ Latinh thể hiện ở việc Mỹ đang sử dụng mọi loại “vũ khí” của hình thái chiến tranh đa hình thái và đa chiều (còn được gọi là chiến tranh thế hệ thứ 5), từ đe dọa can thiệp vũ trang, hay chiến tranh tâm lý thường trực qua các phương tiện thông tin đại chúng đa quốc gia và các mạng xã hội, đến gây sức và đặt điều kiện đối với việc vay mượn tín dụng của các tổ chức đa phương, luôn theo sát những mong muốn chính trị của Washington như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới hay Ngân hàng phát triển liên Mỹ.

Một ví dụ điển hình cho xu hướng này là việc cựu Ngoại trưởng Ecuador Eduardo Patiño mới đây tố cáo rằng đương kim Tổng thống nước này Lenín Moreno đã cam kết tuân thủ các điều kiện mà Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đặt ra: thứ nhất, đứng vào hàng ngũ các nước tấn công Venezuela; thứ hai, đoạn tuyệt với các chương trình hội nhập nội khối Mỹ Latinh; và thứ ba, giao nộp nhà sáng lập Wikileaks Julian Assange. Tất cả chỉ để “đổi lấy một khoản tín dụng nghèo nàn của IMF”; trong khi đó, bước đi tiếp theo rất có thể là việc tái kích hoạt căn cứ quân sự cũ của Mỹ tại Manta.

Chiến dịch chiến tranh tâm lý trong trường hợp của Venezuela hướng tới việc tạo ra những sắc thái chính trị không chỉ đối lập và phân cực cao độ, mà còn loại trừ lẫn nhau, xét từ cả khía cạnh chính trị lẫn khía cạnh xã hội. Đây cũng là thông lệ đang diễn ra tại một số nước trong khu vực.

Những kế hoạch “Balkan hóa” trong quá khứ

Trong thế kỷ trước, giới phân tích theo thuyết âm mưu từng đề cập nhiều tới kế hoạch Andinia, nhằm chia cắt vùng Patagonia (vùng đất cực Nam châu Mỹ) của Chile và Argentina để lập ra một nhà nước Do Thái. Kế hoạch này bao gồm cả việc bạo hành và quấy rối liên tục cộng đồng thổ dân bản địa Mapuche từ cả 2 phía biên giới, cũng như việc chia cắt Brazil thành nhiều nước để xóa sổ siêu cường duy nhất trong khu vực, trong khi đó Colombia, Venezuela, Ecuador và Bolivia cũng sẽ mất một phần lãnh thổ của mình hoặc bị chia cắt thành những nước nhỏ.

Một số nhà phân tích chỉ ra rằng Mỹ không quan tâm lắm tới dầu thô của Venezuela, và nguồn tài nguyên khổng lồ này chỉ là một trong những phương tiện để Washington đạt được mục tiêu thực sự của mình là chia cắt thế giới thành 2 khối lớn: Một bên là tập hợp của các quốc gia toàn vẹn, trật tự và ngăn nắp, và một bên là thế giới “vô pháp vô thiên” với những quốc gia “què cụt”, nơi các vụ xung đột và tình trạng hỗn loạn diễn ra hàng ngày. Để đạt được điều đó, Mỹ phải phá hủy các thể chế nhà nước – quốc gia và các phong trào vận động củng cố tính tự chủ của các bộ máy này.

Chiến lược chính là “Balkan hóa”, hay chia tách có hệ thống một nhà nước – quốc gia thành những quốc gia nhỏ hơn thù địch lẫn nhau, khái niệm bắt nguồn từ những cuộc chiến tranh trên bán đảo Balkan, nhất là từ cuộc tàn phá hủy diệt Liên bang Nam Tư, kèm theo những cuộc thảm sát kinh hoàng, trong những năm 1990 dưới bàn tay của Mỹ và Liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Ý tưởng chủ đạo của chiến lược này là “tô đậm những khác biệt ở những nơi đã có chúng và tạo ra những khác biệt ở những nơi chưa có”. Rõ ràng, chỉ có thể khuyến khích tư tưởng ly khai khi có sự can thiệp của các lực lượng ngoại bang, sự đồng lõa của giới cầm quyền mại bản và những thế lực cơ hội gặp thời tại các khu vực này.

Lịch sử đã chứng minh rằng từ những năm 1860, khi Tổng thống Bolivia lúc đó Mariano Malgarejo trục xuất đại sứ Anh, Nữ hoàng Victoria đã ra sắc lệnh “Bolivia không tồn tại” và cho xuất bản bản đồ Nam Mỹ mà trong đó, lãnh thổ Bolivia bị chia cắt và sáp nhập vào các nước láng giềng. Đây không chỉ là một hành động biểu trưng nhất thời vì quốc gia Nam Mỹ này sau đó đã phải gánh chịu tới 3 cuộc chiến tranh và mất tới hơn 50% lãnh thổ của mình vào tay Brazil, Paraguay và Chile.

Việc xóa sổ Bolivia được chính phủ nhắc lại một lần nữa trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Hernán Siles Suazo, khi tạp chí Time của Mỹ đề xuất việc “Ba Lan hóa” hay phân chia lãnh thổ Bolivia cho các nước láng giềng, với lời biện hộ rằng quốc gia này thường xuyên ở trong tình trạng hỗn loạn và nền kinh tế đã bị sụp đổ do việc cải cách nông nghiệp và quốc hữu hóa các mỏ khoáng sản, buộc phải nhận viện trợ quốc tế để tồn tại, và do đó không nên duy trì nước này như một quốc gia độc lập khi điều này “gây nguy hại cho chính người dân Bolivia”.

Luận điểm tương tự cũng từng được nhà độc tài quân sự Chile Augusto Pinochet sử dụng khi khẳng định Bolivia thiếu khả năng để trở thành một quốc gia và giải pháp tốt nhất là phân chia lãnh thổ của họ được Chile, Peru, Brazil, Argentina, giống như Hiệp ước Hitler – Stalin phân chia Ba Lan cho Đức và Liên Xô năm 1940.

Những kế hoạch này được lập lại trong những tình thế khác nhau bởi các chính trị gia theo tư tưởng tự do mới như Tổng thống diệt chủng Gonzalo Sánchez de Lozada, người cũng từng khẳng định Bolivia là một quốc gia không thể tồn tại. Trong những năm chủ nghĩa tự do mới chiếm thế thượng phong và tình trạng chảy máu tài nguyên diễn ra thường nhật, luận điểm dối trá này được các chính trị gia lặp lại nhiều lần tới mức người ta tin rằng việc Bolivia là một quốc gia không thể tồn tại là sự thật.

Năm 2008, một kế hoạch theo định hướng “Balkan hóa” đã dẫn tới cuộc đối đầu giữa chính phủ quốc gia với chủ trương bảo vệ các dân tộc bản địa yếm thế rất được lòng dân của Tổng thống Evo Morales và các nhà cầm quyền thủ cựu tại các địa phương giàu có trong khu vực địa lý được gọi là Trăng Khuyết (gồm các bang Santa Cruz, Tarija, Beni và Pando, cùng một phần Chuquisaca), giữa khu vực rừng núi Andes giàu khoáng sản ở miền Tây và các khu vực miền Đông, nơi tập trung giới địa chủ, doanh nhân lớn và tư sản thủ cựu, nắm giữ phần lớn các mỏ khí đốt và sản lượng nông nghiệp của đất nước. Tuy nhiên, kế hoạch chia rẽ này sau đó đã thất bại.

Trong trường hợp của Colombia, từng có âm mưu lập ra một “liên bang Antioquia”, hay nói nôm na là tách một trong những bang giàu có nhất ra thành một nhà nước tự chủ, độc lập, với Chính quyền Bogota. Nhưng định hướng “Balkan hóa” thực tế đã bắt đầu từ thế kỷ XIX, với việc tách Đại Colombia thành 2 quốc gia kình địch là Colombia và Venezuela, và sau đó vào năm 1903, Mỹ chia cắt Panama khỏi Colombia để nắm giữ kênh đào huyết mạch nối liền Thái Bình Dương với biển Caribe (thuộc Đại Tây Dương).

Về phần mình, Ecuador cũng chiếm mất phần lớn các tỉnh ven biển và Guayaquil – bang giàu có nhất của “đất nước xích đạo” – cũng hơn một lần suýt bị tách thành một quốc gia riêng.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.estrategia.la

TLTKĐB – 07/05/2019

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s