Tư bản hậu công nghiệp và kinh tế học siêu vĩ mô – Phần XIV


Chúng ta phân tích các động thái của tư bản hậu công nghiệp mà có thể thấy được động thái phát triển của FDI.

Có những tư bản hậu công nghiệp ở những tầng mức khác nhau mà không thể thâm nhập vào nhau. Việc phân tích cac số hạng pk và các động thái của chúng trong những xã hội khác nhau với những giai đoạn khác nhau là công việc rất lý thú, vì các pk thể hiện môi trường mà các loại tư bản có thể hoạt động được hay hông và có thể gia tăng sức mạnh của chúung như thế nào. Không thể có tư bản hậu công nghiệp nếu không có luật về bảo vệ bản quyền, không thể có biện pháp chống lại hàng nhái, hàng giả.

Trong công thức

C = C1 + V1 + M1 + C2 + V2 + M2 + P

Các C1, C2, V1, V2, P có các động thái sơ bộ sau.

Trong thời đại hậu công nghiệp, có những C1 có thể tiếp nhận một C1 mới, chẳng hạn các máy tính có thể tiếp nhận modem để có thể thực hiện liên lạc viễn thông  hoặc tiếp nhận các thanh bộ nhớ mới, hoặc là một chiếc máy có thể tiếp nhận thêm một công đoạn mới. Có những C1 không thể tiếp nhận C2. Có những C1 có thể tiếp nhận C2, thậm chí có thể tiếp nhận nhiều loại C2 khác nhau. Chẳng hạn một máy tính có thể tiếp nhận rất nhiều loại phần mềm khác nhau, rất nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau. Với mỗi loại C2 thâm nhập vào C1 có những bước đột phá để tạo nên được một tạo phẩm mới làm được rất nhiều việc hoàn toàn mới, làm được rất nhiều việc mà trước đấy tạo phẩm cũ không làm được. Nhưng không chỉ có vậy. Thời đại hậu công nghiệp tạo nên được những kết hợp vượt giới hạn không gian và thời gian nên việc một C1 tiếp nhận được một C2 nào đó không có nghĩa là C2 luôn luôn phải thường trú trong C1, mà còn có trường hợp ở ngoài nhưng làm được công việc phối thuộc vào nhau vào những lúc cần thiết. Chẳng hạn những khoản tiền lớn được đổ vào quảng cáo gắn liền với những sản phẩm do C1 tạo nên.

V1 và V2 cũng có những bước phát triển mới. Nếu như V1 ngày càng trở nên đơn giản, thì V2 lại đòi hỏi một quá trình đào tạo, nghiên cứu đặc biệt để hình thành khả năng sáng tạo và phát huy tác dụng. Không phải lúc nào V2 cũng hoạt động có hiệu quả được. Phải có những điều kiện nhất định thì V2 mới hoạt động có hiệu quả được. Phải có những điều kiện nhất định thì V2 mới hoạt động có hiệu quả được.

Sự thống trị của C2 với C1 thể hiện ở chỗ C2 có thể dễ dàng chuyển sang C1 song C1 không phải lúc nào cũng chuyển sang được C2.

Các pk được hình thành do nhiều con đường khác nhau, khi thì do luật pháp, khi thì là uy tín của doanh nghiệp đạt được do nỗ lực không mệt mỏi của doanh nghiệp từ ngày này sang ngày khác, khi thì do những biến đổi đột biến của xã hội, nhiều khi là một thành quả chung của nền văn minh nhân loại, chẳng hạn như ý thức ăn sạch, ở sạch của con người sẽ đòi hỏi các vật phẩm có những dạng phi vật thể mới. Động cơ được làm nguội bằng không khí thay vì bằng nước do Soichiro Honda, ông tổ của hãng Honda bỏ ra rất nhiều công sức và tiền của để thiết kế hầu như không thể có giá trị thương mại vì quá đắt, nhưng khi luật Môi trường mới của Mỹ ban hành thì loại động cơ này bán được số lượng lớn ở Mỹ.

Tất cả những pk này tham gia vào quá trình tạo nên một bộ phận có giá trị đặc biệt trong tư bản hậu công nghiệp. Đây là điểm đặc biệt khác của tư bản hậu công nghiệp so với tư bản công nghiệp và những loại tư bản trước đó. Trong các pk đó, có những giá trị pk vô hiệu hóa hoạt động của các loại C1, C2 nào đó, có những giá trị pk khiến cho loại V1, V2 nào đó không hoạt động được. Có những loại pk là hàm của các C1, C2, V1, V2 hàm này có thể tác động làm tăng trưởng hay làm thu hẹp. Có những loại pk có vai trò độc lập. Để thấy được những yếu tố này, chúng ta xem xét đạo luật chống bán phá giá, mà đã đem lại cho các doanh nghiệp Mỹ những gì.

Khi doanh nghiệp Mỹ tiến hành FDI ở nước ngoài, hàng hóa chất lượng tương đương với hàng hóa sản xuất ở nước Mỹ được chuyển vào Mỹ và được bán với giá bằng với giá ở thị trường Mỹ. Hàng hóa nước ngoài cũng được bán với giá như vậy. Như thế khả năng cạnh tranh bằng giá cả là không được thực hiện. Tình hình gì sẽ xảy ra? Đối với doanh nghiệp Mỹ, khi mà rất thông thạo trong việc tạo ra những dạng phi vật thể liên quan tới hàng hóa, “Cái giá trị mà công ty Nike chẳng hạn đang tạo ra, không phải là nguyên liệu làm ra những đôi giày của nó mà là cái nền văn hóa gắn liền với nó” (Danny T Quah, 1998), người ta mua hàng là mua những thứ phi vật thể liên quan tới hàng hóa có giá thành rẻ lại được bán giá cao, cho nên uy tín và thương hiệu được đảm bảo nếu vẫn được người tiêu dùng chấp nhận tiêu thụ. Hàng hóa của nước khác muốn bán được ở Mỹ mà bán với giá như hàng hóa cùng loại của Mỹ thì không thể bán được hàng, lại phải liên kết với một tên tuổi nào đó ở Mỹ từ ngay chính nước bản địa của mình thì mới bán lại được giá như vậy, còn bán với giá rẻ hơn vào Mỹ thì bị kiện ngay. Như vậy hãng nước ngoài buộc phải chịu phụ thuộc vào Mỹ ngay từ bên sân nhà mình, chịu sự chi phối của tên tuổi của Mỹ. Đạo luật đó đã tạo nên được sự kết hợp các hãng nước ngoài với các hãng của Mỹ và chịu sự chi phối củ các hãng Mỹ. Đạo luật đó hút những tinh hoa FDI của nước ngoài trong việc tạo nên các tạo phẩm vật thể và phi vật thể vào Mỹ, vì Mỹ là nơi tập trung tinh hoa của mọi tinh hoa. Đạo luật đã tạo ra một ưu thế của các công ty ở Mỹ đối với các công ty nước khác. Dòng FDI vào Mỹ bao giờ cũng lớn nhất trên thế giới.

Vì tiến trình phát triển đem lại sự thống trị của nền kinh tế hậu công nghiệp, nên các pk làm gia tăng sự thống trị của các C2, V2 mở đường cho chúng phát huy tác dụng. Pk này ở tầng mức quốc gia có một độ đo là “sự hấp dẫn”.

Nếu như các pk gây cản trở cho sự phát triển của tư bản hậu công nghiệp thì việc tháo gỡ các rào cản là việc phải thực hiện nếu nền kinh tế không muốn bị sụp đổ, nên mọi chính phủ đều mong muốn loại bỏ các rào cản đó, nên chúng ta tập trung khảo sát trường hợp những rào cản đã được giảm xuống để các C2, V2 có thể vận động được. Trong đó ta xem xét các pk theo khả năng làm gia tăng hay làm thu hẹp các sự phát triển của tư bản hậu công nghiệp. Có rất nhiều yếu tố tham gia vào pk, trong đó có dân số, khả năng thanh toán, mức sống có những vai trò nhất định.

Chúng ta khảo sát một số tình huống vận động của tư bản trong một lĩnh vực kinh tế song hành cả tư bản công nghiệp lẫn tư bản hậu công nghiệp trong một nước như sau:

a/ C1 ít, C2 ít

Có những C1 không thể tiếp nhận được C2. Trong trường hợp này chỉ có V1 hoạt động được, còn V2 không hoạt động. Như vậy V2 sẽ được chuyển tới những nơi có thể dùng đến nó, đây là trường hợp đầu tư từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển.

+ Có đủ V1, không có đủ V2

Trong trường hợp này, việc chuyển tiếp nhận các C1 mà tiếp nhận được các C2, ăn nhập được với các C2 là điều không thể thực hiện được. Như vậy có những V1 có thể hoạt động được nên chỉ tiếp nhận được những gì tương xứng với chúng. Trong trường hợp này FDI là một yếu tố quan trọng để phát triển. Việc phát triển V2 là yêu cầu tất yếu để phát triển nền kinh tế hậu công nghiệp.

+ Có đủ V1, có đủ V2

Trong trường hợp này, có thể tiếp nhận được các C1 có khả năng tiếp nhận được C2 theo con đường thương mại hay FDI. Hoặc là V2 có thể chuyển sang những nơi mà có C2 có thể cần đến nó.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s