Con sông – Phần VI


Một cách khác để giảm tần suất và quy mô của bong bóng tài chính là hạn chế số lượng tiền sẵn có bơm vào bong bóng. Nguồn tiền từ nước ngoài đã góp phần vào khủng hoảng tài chính châu Á cuối thập niên 1990 và bong bóng nhà ở Mỹ, nên cùng với chính sách kiểm soát ngành tài chính, đã có những đề xuất hạn chế dòng vốn di chuyển xuyên biên giới ở cấp độ quốc gia. Kiểm soát dòng vốn là biện pháp quen thuộc hồi kỷ nguyên hội nhập kinh tế thế giới thứ hai từ năm 1945 đến 1990, thời vốn bị coi là một loại thuốc cần kê đơn: với liều lượng phù hợp nó có thể cứu mạng người, nhưng nếu dùng quá liều thì sẽ hết sức nguy hiểm. Mặc dù sau năm 1990 có sức ép đòi giải phóng nguồn vốn, nhưng nhiều nước không thuộc bộ ba phương Tây vẫn duy trì quy định kiểm soát.

Khác với rào cản thương mại, kiểm soát dòng vốn không bị các nhà kinh tế học đồng loạt phản đối. Nguyên tắc lợi thế cạnh tranh của David Ricardo, với hàm ý can thiệp chính trị vào thương mại sẽ làm giảm tổng phúc lợi của các bên, lại không phù hợp với dòng vốn quốc tế. Vì quá nhiều tiền có thể phá hủy nền kinh tế, các can thiệp chính trị cản trở dòng vốn có khi lại làm các nước giàu mạnh hơn bằng cách tránh để chúng rơi vào tình trạng xấu.

Chính sách kiểm soát dòng vốn đóng vai trò ngăn không cho bong bóng tài chính hủy diệt hình thành lần nữa, nhưng cũng như các quy định kiểm soát ngành tài chính, nó cũng có nhược điểm. Nếu một số nước áp dụng biện pháp chặt hơn thì dòng vốn lớn nguy hiểm đơn giản là sẽ bị đẩy chệch sang các nước khác, những nơi có chính sách theo hướng lạc quan chứ không phải ngăn chặn. Ở đây, một lần nữa, việc thiếu vắng những quy định ở quy mô toàn cầu đã gây ra sự khác biệt.

Hơn nữa, kiểm soát vốn còn làm giảm tăng trưởng kinh tế. Có bằng chứng thuyết phục cho thấy ở trạng thái cân bằng thì nước nào nhận được nhiều vốn hơn sẽ thịnh vượng hơn. Vì vậy, cho dù có nguy cơ đe dọa nhưng trong tương lai, các quốc gia sẽ tiếp tục cạnh tranh để thu hút vốn nước ngoài như trước kia, thay vì cản trở nó; tương tự như việc họ vẫn luôn cạnh tranh để thu hút thêm nhiều công ty tài chính đến hoạt động trong nước mình.

Thêm nữa, giống như hạn chế nhập khẩu dịch vụ từ nước ngoài, thực thi kiểm soát dòng vốn cũng không dễ. Trong thời đại giao tiếp toàn cầu tức thời này, tiền tồn tại dưới cả dạng điện tử, có thể gửi vòng quanh thế giới chỉ bằng một cú kích chuột máy tính thì hạn chế dòng lưu thông vốn, nếu có thể, là việc cũng không dễ dàng.

Bong bóng có thể hình thành ở bất cứ đâu, nhưng lý do chính khiến bong bóng bất động sản khổng lồ xuất hiện ở Mỹ là vì Mỹ nhận được dòng vốn nước ngoài khổng lồ do mất cân đối tài chính quốc tế. Mỹ có thâm hụt tài khoản vãng lai rất lớn, tiết kiệm ít hơn đầu tư, tiêu dùng nhiều hơn sản xuất. Các nước khác lại có thặng dư lớn, và họ sử dụng một phần số thặng dư để bù đắp cho thâm hụt của Mỹ. Cứ thế cho đến khi Mỹ nhận được 70% phần thặng dư mà thế giới tiết kiệm được. Một phần số tiền này đi vào bong bóng nhà ở, gián tiếp thông qua việc giữ cho lãi suất của Mỹ luôn ở mức thấp, hoặc trực tiếp thông qua đầu tư vào các tài sản có liên quan đến bất động sản,

Nếu không tái cân đối lại thặng dư và thâm hụt của các nước, thế giới không chỉ đối mặt với rủi ro sẽ có nhiều bong bóng hơn mà còn có thể gặp phải một cú sốc kinh tế rất lớn nếu người cho vay hoảng sợ trước tình trạng thâm hụt quá lớn thường xuyên của Mỹ và từ chối tiếp tục bù đắp, hoặc nếu chính phủ Mỹ giải quyết số nợ khổng lồ bằng cách in tiền bừa bãi. Nhưng nếu ngược lại, Mỹ giảm vay nợ, nhưng các nước khác không tăng chi tiêu thì nền kinh tế thế giới sẽ bị thiếu cầu và tăng trưởng chậm lại, hoặc thậm chí không tăng trưởng nữa. Tái cân đối thặng dư và thâm hụt toàn cầu, trong đó các nước thâm hụt (quan trọng nhất là Mỹ) tiêu dùng ít đi, còn các nước thặng dư tiêu dùng nhiều hơn là việc cần thiết để chống lại những cú sốc tài chính nghiêm trọng. Một lần nữa, có thể thấy nói cho cùng đây là nhiệm vụ chính trị, và nó không hề dễ dàng.

Với Mỹ, con nợ lớn nhất thế giới thì việc quan trọng là phải giảm phụ thuộc vào đầu nhập khẩu và cắt giảm thâm hụt ngân sách. Hầu hết mọi người đều hiểu sự cấp thiết về mặt kinh tế của hai nhiệm vụ này, nhưng hệ thống chính trị Mỹ khó mà thực hiện được chúng vì một lý do rất đơn giản: cả hai đều làm nền kinh tế đau đớn. Khi giảm phụ thuộc vào đầu nhập khẩu, người tiêu dùng phải trả nhiều tiền hơn; còn khi cắt giảm thâm hụt ngân sách, những người được hưởng trợ cấp từ các chương trình cảu chính phủ sẽ nhận được ít hơn. Cả hai nhóm người – và tất nhiên đa phần người dân Mỹ là thuộc một trong hai nhóm – đều không thích các giải pháp nói trên, nên trong suốt thập niên đầu thế kỷ 21, giới chính trị gia không thể và trong bất cứ tình huống nào cũng sẽ không thắng cử được với đề xuất – chứ chưa nói đến hiện thực – những chính sách khiến người dân mất nhiều tiền hơn và được hưởng ít phúc lợi hơn. (Tăng sản xuất năng lượng trong nước – kết quả của tiến bộ công nghệ khai thác dầu và khí tự nhiên – có vẻ là giải pháp hứa hẹn giảm được sự phụ thuộc vào dầu nhập khẩu). Các nước thặng dư giải quyết tình trạng mất cân bằng có vẻ dễ dàng hơn vì chỉ cần người dân nước họ làm nhiều hơn cái việc mà người Mỹ đang quá tích cực, cũng là mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh tế, đó là tiêu dùng. Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, chính phủ Mỹ phải đóng vai trò lão hà tiện, còn chính phủ các nước có thặng dư thương mại phải làm như mình là ông già Noel phát quà khắp nơi. Nhưng giảm thặng dư thương mại hóa ra cũng khó không kém gì cắt giảm thâm hụt, vì nó không chỉ đơn giản là tiêu tiền. Nó đòi hỉo phải xem xét nhiều chính sách trong dài hạn, thay đổi thái độ vốn đã có gốc văn hóa và lịch sử lâu đời của mỗi nước, và vượt qua được những sức ép chính trị nặng nề.

Khi xảy ra khủng hoảng kinh tế năm 2008, ba quốc gia có thặng dư thương mại lớn nhất không phải từ xuất khẩu dầu là Nhật Bản, Đức và Trung Quốc đã có hàng chục năm theo đuổi chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Họ có các ngành công nghiệp, hệ thống tài chính, chính sách kinh tế, thói quen, trình độ của người lao động và giới chủ phù hợp với việc sản xuất hàng hóa để bán ra nước ngoài. Không thể nhanh chóng, dễ dàng thay đổi tất cả những thứ đó theo hướng khuyến khích nhập khẩu, tiêu dùng trong nước nhiều hơn. Hơn nữa, ở cả ba nước, ý chí thay đổi của giới chính trị còn yếu, vì chiến lược kinh tế hướng đến xuất khẩu đã từng đem lại mức tăng trưởng ấn tượng nên các quốc gia cũng như người dân trong nước chỉ muốn thay đổi cái dở chứ không ai muốn bỏ đi cái hay.

Cả ba nước thặng dư thương mại nói trên đều có lý do – chủ yếu bắt nguồn từ chính trị – để tiếp tục con đường từng đem lại thặng dư. Xã hội Nhật Bản đang già hóa. Với mức sinh thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu lao động và chính sách an sinh xã hội không rộng rãi như châu Âu, người Nhật tự nhận thấy phải tiết kiệm, bất kể tình hình thế giới như thế nào. Xã hội Đức cũng già hóa, và người Đức thì có kiểu dè dặt khác trước yêu cầu giảm tiết kiệm, tăng chi tiêu: cả hai hành động này đều đi ngược lại giá trị lâu đời của họ. Truyền thống Đức là tiết kiệm, còn hơn cả Nhật. Từ bỏ tính tiết kiệm, chăm chỉ đã ăn sâu vào mỗi người để chuyển sang tiêu dùng, hưởng thụ rõ ràng không phải là thói quen của người Đức.

Thái độ tương tự không tồn tại ở Trung Quốc, nơi có hằng trăm triệu người tiêu dùng tiềm năng khiến đất nước có khả năng tiêu dùng hơn nhiều. Tình trạng nghèo đói còn phổ biến ở đây đã góp phần đáng kể vào thặng dư thương mại vì người nghèo không mua hàng nhập khẩu. Thặng dư của Trung Quốc tiếp tục tăng là do họ tiêu dùng một phần khá nhỏ trong tổng sản phẩm họ làm ra và đầu tư rất lớn. Và người Trung Quốc cũng rất tiết kiệm vì an sinh xã hội của họ rất hạn chế. Hệ thống an sinh xã hội ra đời từ thời Mao Trạch Đông gặp rất nhiều vấn đề và cần thời gian để thay mới.

Hệ thống chính trị Trung Quốc cũng đóng vai trò đáng kể . Doanh nghiệp thuộc các ngành xuất khẩu đã gây ảnh hưởng lên chính phủ để theo đuổi những chính sách có lợi cho họ, bao gồm (không chỉ) duy trì tỷ giá thấp. Vì vậy, nền chính trị Trung Quốc, giống như dân số Nhật Bản và truyền thống Đức, đang gây khó khăn cho việc tái cân đối nền kinh tế thế giới để giảm nguy cơ khủng hoảng tài chính sâu sắc hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s