Lý thuyết an ninh việc làm – Phần IV


Hà Hữu Nga

….

5.4. Hưu trí và trợ cấp hàng năm  

Một số người nói về các khoản trợ cấp hưu trí vào thời điểm họ được hỏi về việc lên kế hoạch cho tình trạng thất nghiệp. Điều này lại chỉ ra rằng, người ta thấy rủi ro về thu nhập của họ là ở tương lai, khi họ ngừng làm việc ở tuổi nghỉ hưu chứ không phải là nguy cơ sắp xảy ra do thất nghiệp hoặc sức khoẻ kém. Có thể những người tham gia đã phản ứng với nhận thức và phương tiện truyền thông về những tình trạng thiếu hụt lương hưu. Các khoản hưu trí tư nhân, cá nhân và các bên liên quan được thảo luận ở hầu hết các nhóm và ngoại trừ một vài khu vực công hoặc các cơ sở tiện ích thường được coi là không đảm bảo an ninh tài chính bởi vì người ta không tin là họ có thể mang lại một khoản thu nhập đủ để dành cho suốt quãng đời nghỉ hưu còn lại (Burchardt, Tania & Hills, John 1997). Ở Mỹ, mặc dù người dân có nhu cầu tiết kiệm cho việc nghỉ hưu nhiều hơn và lớn hơn, nhưng phạm vi trợ cấp hưu trí vẫn còn rất xa mới đạt tới mức phổ quát. Ngay cả ở những người lao động trong độ tuổi từ 40 tới 60, chỉ có 60% được hưởng kế hoạch hưu trí (tính đến năm 1999). Trong khi 71,6% nhân viên của các công ty tư nhân vừa và lớn (100 nhân viên trở lên) tham gia vào kế hoạch lương hưu năm 1997, chỉ có 37,3% công nhân ở các công ty nhỏ được tham gia vào kế hoạch hưu trí năm đó. Ngoài ra, có một khoảng cách khá lớn về giới liên quan đến thu nhập hưu trí tư nhân. Vào năm 1995, có 46,4% nam giới trên 65 tuổi được hưởng thu nhập hưu trí và/hoặc trợ cấp hàng năm(trung bình là 11.460 đô la một năm), nhưng chỉ 26,4 phần trăm phụ nữ trên 65 tuổi được nhận lương hưu hoặc trợ cấp hàng năm, và trung bình chỉ 6.684 đô la mỗi năm (Forman, J. B. 2002).

5.5. Các khoản trợ cấp khác

Trong các cuộc thảo luận nhóm tập trung, chỉ có một vài người đề cập đến trợ cấp an sinh xã hội như là một phần trong kế hoạch giải quyết nạn thất nghiệp. Hiểu biết về trợ cấp nói chung là nghèo nàn, và mặc dù đã được hưởng một số khoản trợ cấp của tín dụng thuế, phần lớn vẫn cảm thấy rằng khoản này không thể giúp lên kế hoạch an ninh việc làm một cách hiệu quả. Người ta cũng tin rằng sự hỗ trợ của nhà nước trong tương lai có thể sẽ ngày càng giảm đi. Nhiều người không biết có những khoản trợ cấp nào. Hầu hết đều coi trợ cấp chỉ đủ tồn tại chứ không phải là để có được cuộc sống thực sự. Chỉ có một số ít người nghĩ rằng họ sẽ yêu cầu trợ cấp an sinh xã hội nếu họ thực sự mất việc và thậm chí, yêu cầu đó được mô tả là “phương sách cuối cùng”. Đa số cho rằng họ sẽ kiếm bất kỳ công việc nào, còn hơn là ký đơn xin trợ cấp. Chừng nào họ không đau ốm, họ thề không quan tâm đến xin trợ cấp,thà làm công việc vệ sinh, hoặc làm bất cứ việc gì, cũng đều hơn ký đơn xin trợ cấp.Một số nhóm cũng có chung quan điểm là rất khó yêu cầu các khoản trợ cấp an sinh xã hội, các khoản đó không dành cho những người tự kinh doanh, và chỉ dành chonhững người hiếm khi làm được việc so với những người đã làm việc trong hầu hết cuộc đời của họ và/hoặc những người có tiền tiết kiệm. Một vài người trong nhómđồng tính nam, đồng tính nữ và lưỡng tính cũng cảm thấy bất công (về nguyên tắc chứ không nhất thiết về tài chính) khi họ không được đối xử như một cặp đôi hoặcnhư một đơn vị gia đình để có thể được đàm bảo an ninh việc làm (Quilgars, Deborah & Abbott, David 2000).

5.6. Các nguồn thu nhập từ tài sản

Có một số chiến lược khác liên quan đến việc lên kế hoạch cho sự cố mất việc làm. Ví dụ, việc có sẵn hoặc mua bất động sản, cũng như là chủ sở hữu về tài sản, được coi là một khoản dự phòng khả thể trong trường hợp mất việc làm cũng như nghỉ hưu. Thu nhập từ tài sản là một nguồn quan trọng đối với người cao tuổi, chẳng hạn như tài khoản tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, chứng khoán và trái phiếu, và các khoản đầu tư khác. Thu nhập từ tài sản có dạng lãi, cổ tức, tiền thuê và các loại tiền tác quyền. Vào năm 2015, thu nhập trung bình từ các tài sản tài chính, cho 65 phần trăm của những người từ 65 tuổi trở lên có những tài sản này, là 1.683 đô la một năm. Tại mỹ, thu nhập từ trợ cấp xã hội gồm có hỗ trợ công cộng cho người lớn tuổi bao gồm chủ yếu là thu nhập an sinh bổ sung (SSI – Supplemental Security Income) và các chương trình trợ giúp chung của các tiểu bang. SSI là một chương trình liên bang cung cấp trợ cấp thu nhập cho người già, người mù hoặc tàn tật có thu nhập ít hoặc không có thu nhập nào khác (Social Security Administration. 2000).

5.7. Các khoản hỗ trợ của gia đình và cộng đồng

Những người thám gia thảo luận nhóm về an ninh việc làm giải thích rằng các khoản hỗ trợ tài chính chủ yếu của họ là thuộc về hình thức hỗ trợ của vợ/chồng/bạn tình và/hoặc phụ huynh cũng như các thành viên khác trong gia đình họ. Đây là trường hợp không hề có sự khác biệt. Vì hầu hết mọi người lớn tuổi đều có một người bạn đời, và họ sẽ cảm thấy an toàn khi biết rằng vẫn có ít nhất một khoản thu nhập nếu người kia mất việc. Tuy nhiên, người ta cũng công nhận rằng điều này có thể gây ra căng thẳng cho mối quan hệ của họ. Trong một vài trường hợp, cha mẹ đã để lại tiền hoặc đầu tư tiền cho con cái của họ. Nhìn chung, mọi người cảm thấy rằng họ có thể dựa vào gia đình mình để được hỗ trợ bằng tiền của hoặc hiện vật. Chỉ có những người trả lời thuộc một nhóm tín ngưỡng đề cập đến tiềm năng của sự hỗ trợ với tư cách là thành viên của nhóm xã hội. Thực tế đã cho thấy các nhà thờ, vàchùa chiền thường cung cấp thức ăn miễn phí cho các tín đồ và/hoặc những người có nhu cầu, và nhiều người đã nhận được rất nhiều hỗ trợ trong những lúc khó khăn(Quilgars, Deborah & Abbott, David 2000).

6. Đo lường an ninh việc làm

6.1. Tính điểm an ninh việc làm

Một điểm an ninh việc làm là một biểu hiện bằng số về rủi ro thất nghiệp của một cá nhân dựa vào phân tích thống kê nhân khẩu học của một người cá nhân, chẳng hạn như vị trí, ngành công nghiệp, và nghề nghiệp, cũng như các yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như công nghệ, thuê ngoài, và cạnh tranh ở nước ngoài, được thể hiện trong các dữ liệu kinh tế vĩ mô và các xu hướng. Điểm An ninh Việc làm (Job Security Score) còn thể hiện độ tin cậy của một cá nhân dựa trên khả năng thanh toán của họ bằng cách dự đoán xác suất nguy cơ thất nghiệp của một cá nhân. Nó cũng tương tự như Điểm Tín dụng, thể hiện mức độ tin cậy của một cá nhân dựa trên sự sẵn lòng chi trả của họ bằng cách đánh giá xác suất của một cá nhân trong việc trả nợ một cách kịp thời (Nardone Thomas, Jonathan Veum, and Julie Yates 1997).

6.2. Chỉ số an ninh việc làm

Tại Mỹ, chỉ số an ninh việc làm là một thước đo về các điều kiện làm việc. Được Scorelogix phát triển, Chỉ số An ninh Việc làm là đại diện cho cách thức mà các nhân tố kinh tế, internet và máy tính, thương mại quốc tế và cạnh tranh, thuê ngoài, chuyển ra ngoài, di cư tìm việc làm, vv…, tác động đến cung và cầu lao động. Đối với một khu vực, chẳng hạn như vùng bưu chính (ZIP code), quận hoặc khu vực thống kê đô thị (MSA), một chỉ số An ninh Việc làm cao hơn, cho thấy người dân ở khu vực đó có cơ hội tìm việc làm và giữ được việc làm tốt hơn. Chỉ số An ninh Việc làm thấp hơn cho một vùng hoặc quận có nghĩa là ở vùng đó, tương đối khó tìm và khó giữđược việc làm. Thông thường, các thành phố và quận tập trung nhiều việc làm của chính phủ hoặc công việc liên quan đến giáo dục thường có các giá trị Chỉ số An ninhViệc làm cao hơn vì những công việc này ít bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế (Nardone Thomas, Jonathan Veum, and Julie Yates 1997).

6.3. Đo thời hạn làm việc

Thời gian dành cho người sử dụng lao động, hoặc thời hạn làm việc, là một biến số thường được sử dụng trong các nghiên cứu về thị trường lao động tập trung vào các chủ đề như cung ứng lao động, tìm kiếm việc làm, và biến động việc làm. Một số nghiên cứu gần đây đã xem xét dữ liệu từ Văn phòng Điều tra Dân số Hiện tại (CPSCurrent Population Survey) về thời lượng làm việc để cung cấp bằng chứng thực nghiệm trực tiếp về sự suy giảm mức độ ổn định việc làm trong nền kinh tế Mỹ. Thông tin về thời lượng mà các cá nhân đã làm việc liên tục cho những người sử dụng lao động hiện tại của họ có sẵn trong các báo cáo bổ sung định kỳ của CPS. Bằng chứng từ các nguồn dữ liệu khác của Hoa Kỳ cũng chỉ ra rằng dữ liệu về thờihạn làm việc thường có vấn đề. Đặc biệt, James N. Brown và Audrey Light đã phát hiện ra rằng trong Nghiên cứu Bàn tròn về Động thái Thu nhập, phỏng vấn cùng mộtnhóm người theo thời gian, thì các kết quả cho các câu hỏi về thời hạn làm việc thường không phù hợp với thời gian theo lịch. (Brown, James N & Light, Audrey, 1992). Một nguồn dữ liệu dọc khác, Khảo sát Dọc Thanh niên Quốc gia NLSY (National Longitudinal Survey of Youth), thu thập dữ liệu bằng cách nhằm giảm thiểu các vấn đề về nhớ lại thực chất và sai số làm tròn. Bằng cách ghi lại ngày tháng năm của tất cả các công việc và tất cả các giai đoạn không làm việc, công trình nghiên cứu đã cung cấp lịch sử việc làm gần như hoàn chỉnh và liên tục cho từng cá nhân trong mẫu khảo sát. Thông tin về các sự kiện lớn khác cũng được thu thập theo cách này. Những tháng học ở trường, cũng như thời gian của các chương trình đào tạo đều được xác định. Công cuộc khảo sát còn thu thập được ngày tháng năm biến đổi tình trạng hôn nhân và sự ra đời của con cái họ. Việc nghiên cứu các báo cáo hồi cố về các sự kiện cá nhân chỉ ra rằng các kỹ thuật can thiệp giúp người trả lời đưa các sự kiện vào một dòng thời gian cá nhân cải thiện đáng kể lỗi nhớ lại của người trả lời (Means, Barbara and Elizabeth F. Loftus 1991).

(còn tiếp) 

Nguồn: http://kattigara-echo.blogspot.com

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s