Con sông – Phần VII


Khi xem xét chính sách kinh tế quốc tế cũng như chính trị trong nước, các nước châu Á càng đi theo hướng tích lũy thặng dư nhiều hơn. Họ tích lũy đồng tiền mạnh trong những ngày thái lai để phòng ngừa cho những ngày có nhu cầu đột biến lớn với loại tiền đó dẫn đến nguy cơ xảy ra khủng hoảng như ở châu Á cuối thập niên 1990. Do vậy, một biện pháp khác để tái cân đối nền kinh tế toàn cầu là giảm cầu đồng tiền mạnh cho mục đích phòng ngừa. Có thể làm được bằng cách cải tổ hệ thống tiền tệ quốc tế. Suốt thời kỳ bản vị vàng, cũng là kỷ nguyên hội nhập kinh tế quốc tế đầu tiên kéo dài từ giữa thế kỷ 19 cho đến Chiến tranh Thế giới thứ nhất và tiếp theo là thời hệ thống Bretton Woods có hiệu lực từ năm 1944 đến 1971, đã có những quy định kiểm soát dòng tiền quốc tế sao cho không hình thành nên tình trạng mất cân đối cán cân thương mại đang ngày càng trầm trọng vào đầu thế kỷ 21.

Nỗ lực đưa ra những quy tắc tương tự sẽ gặp phải rào cản lớn về chính trị cho dù về mặt kinh tế là rất quan trọng, phải làm. Cần sự nhất trí của quá nhiều quốc gia. Hơn nữa, các nước có thặng dư và thâm hụt sẽ bất đồng với nhau, nước nào cũng sẽ đòi các nước còn lại phải chịu chi phí điều chỉnh. Trong và ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Mỹ, chủ nợ lớn nhất thế giới đã chống lại những nỗ lực của John Maynard Keynes – thành viên đoàn đại biểu chính phủ Anh, con nợ lớn nhất thế giới – nhằm thúc đẩy những chính sách, thể chế, quy định buộc các nước có thặng dư phải tham gia vào tái cân đối cán cân thương mại. Ở thế kỷ 21, vị thế đã đảo ngược, các quan chức Mỹ đại diện cho con nợ lớn nhất thế giới lại đi thúc giục các đồng nhiệm ở Trung Quốc và Đức phải đóng góp đúng mức vào tái cân đối nền kinh tế toàn cầu.

Cải cách tiền tệ với mục tiêu nói trên vẫn là giấc mơ hoang đường, nhưng vào đầu thế kỷ 21, một cuộc cải cách tiền tệ mạnh mẽ với mục tiêu khác đã thực sự diễn ra ở một phần thuộc bộ ba phương Tây. Trong một nỗ lực cải cách táo bạo nhất trong lĩnh vực tiền tệ tính từ thời Bretton Woods, mười bảy thành viên của EU đã từ bỏ đồng tiền riêng của mỗi nước và tạo ra một đồng tiền chung. Không may, vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21, euro, đồng tiền chung của họ cũng rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng không ém gì cuộc khủng hoảng khiến hệ thống tài chính Mỹ suýt sụp đổ vào năm 2008, chỉ có theo cách khác. Khủng hoảng đồng euro lần này sẽ có tác động rất mạnh lên tương lai nền kinh tế thế giới.

Rắc rối của đồng euro

Lịch sử đồng euro là minh chứng cho thấy câu châm ngôn: “Cẩn thận kẻo ước gì được nấy”. Sự ra đời của đồng euro là một bước quan trọng nhằm hoàn thành giấc mơ lớn về một châu Âu thống nhất hình thành từ đống đổ nát sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Người ta kỳ vọng đồng euro sẽ tiếp tục dự án đã tồn tại 60 năm để đưa các quốc gia châu Âu đến gần nhau hơn về chính trị, thịnh vượng hơn về kinh tế. Nhưng ngược lại, đồng euro đã gây ra tác động tiêu cực lên cả hai khía cạnh. So với cuộc khủng hoảng tài chính chủ yếu ở Mỹ năm 2008 thì nguyên nhân của các vấn đề kinh tế mà đồng euro sinh ra, giải pháp cho chúng cũng như những khó khăn khi thực hiện còn mang tính chính trị hơn nhiều.

Chắc chắn sự ra đời của đồng euro là có cơ sở kinh tế. Khi hợp nhất nhiều đồng tiền thành một, rủi ro liên quan đến biến động tỷ giá khi các quốc gia thành viên có giao dịch kinh tế với nhau giảm, và khi rủi ro giảm thì thương mại và đầu tư trong nội bộ châu Âu đã thực sự tăng lên cho dù chưa được như mong muốn của những người sáng lập ra đồng euro. Một đồng tiền chung duy nhất đã góp phần xây dựng một thị trường thống nhất cho hàng hóa, vốn và lao động ở EU. Nó cũng giúp châu Âu bớt phụ thuộc vào đồng dollar – đồng tiền được quản lý theo cách mà châu Âu là không phải lúc nào cũng có lợi cho họ. Điều này cũng không có gì lạ: trong chính sách kinh tế và mọi chính sách khác, chính phủ Mỹ hẳn nhiên phải ưu tiên phục vụ lợi ích của người dân bỏ phiếu cho họ chứ không phải cho các thành viên của EU.

Chính phủ thành lập ra đồng euro cũng có mục tiêu chính trị của riêng mình. Với đồng tiền chung và kỳ vọng nó sẽ đẩy mạnh nhất thể hóa chính trị, giới lãnh đạo EU dự đoán châu Âu sẽ có vai trò lớn hơn trên trường quốc tế. Dưới góc độ địa chính trị, ý nghĩa của đồng euro còn lớn hơn. Cũng như với vấn đề nhập cư, thái độ của người châu Âu về nâng cao vai trò địa chính trị của cả châu lục không hề giống nhau, tùy thuộc vào mỗi người đứng ở vị thế nào. Với người dân, nó chỉ có ý nghĩa bình thường; nhưng với giới chính trị cao cấp – những người đã hình dung, thiết kế và sáng lập ra đồng euro – nó rất quan trọng.

Việc đưa ra đồng tiền chung ngay lập tức cũng có phần chính trị bên trong. Những cuộc đàm phán dẫn tới quyết định sáng lập đồng euro năm 1992 đã diễn ra trong bóng đen của loạt sự kiện chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu sụp đổ và nước Đức tái thống nhất. Mặc dù các nước tham gia đàm phán không bao giờ trực tiếp nói ra, nhưng với họ mục đích của đồng tiền chung là để gắn kết một nước Đức đột nhiên trở nên rất lớn và mạnh hơn nhiều vào châu Âu, tiếp tục nỗ lực song phương bắt đầu từ khi Đế chế thứ ba bị đánh bại vào năm 1945 để đưa Đức tái hội nhập và châu Âu có thêm sức mạnh của Đức.

Lực đẩy chính trị mạnh mẽ tạo ra đồng euro rõ ràng là một lý do để mọi người cho rằng quá trình thiết kế ra nó là một sai lầm không được sửa chữa từ trước khi nó ra đời. Sai lầm này gây ra hậu quả nghiêm trọng không kém gì khi nước song dâng lên làm vỡ con đê chất lượng kém.

Đồng euro làm các nước thành viên mất đi quyền ra chính sách tiền tệ độc lập, mà chính sách tiền tệ lại là một công cụ hết sức hữu hiệu để giải quyết hai vấn đề kinh tế phổ biến. Một trong số đó là suy thoái kinh tế. Khi một quốc gia độc lập, có đồng tiền riêng bị suy thoái, nó có thể giảm lãi suất để phục hồi tăng trưởng. Các nước thành viên đồng euro không thể làm như vậy vì họ phải áp dụng lãi suất chung. Không bang nào trong năm mươi bang của Mỹ được phép có chính sách tiền tệ riêng. Nhưng khi kinh tế bang Ohio đi xuống, người dân Ohio có thể tự do, dễ dàng chuyển sang các bang khác, nơi tình hình kinh tế tốt hơn. Ngoài ra, chính phủ liên bang có thể lấy tiền từ những người có việc làm và đang đóng thuế ở các bang khác để hỗ trợ cho người Ohio thất nghiệp thông qua bảo hiểm thất nghiệp liên bang.

Giải pháp tháo gỡ các vấn đề kinh tế ở Mỹ nói trên được các nhà kinh tế học gọi là “khu vực tiền tệ tối ưu”, và khu vực tiền tệ tối ưu luôn chính là một quốc gia độc lập. Để thực hiện nó cần một chính phủ hoạt động hiệu quả, cái mà những người sáng lập không thể mang lại cho đồng euro. Sự thiếu hụt này đã và đang luôn là nhược điểm lớn nhất của đồng euro.

Chính sách tiền tệ độc lập cũng là một công cụ hữu hiệu để giải quyết thâm hụt tài khoản vãng lai. Quốc gia có đồng tiền riêng nếu bị thâm hụt có thể giảm giá đồng nội tệ, qua đó tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu và giải quyết được tình trạng mất cân đối. Nếu không giảm được giá trị đồng nội tệ – vấn đề các thành viên đồng euro đang gặp phải – thì một nước chỉ có thể bù đắp thâm hụt bằng cách vay nợ. Nhưng vay nợ chỉ khiến một nước trì hoãn những chính sách điều chỉnh khiến người dân trong nước kiếm được ít tiền hơn và bớt mua hàng nhập khẩu như giảm chi tiêu trong nước, giảm lương để làm hàng xuất khẩu rẻ hơn. Đây là thực tế đã diễn ra vào thời kỳ bản vị vàng. Chính sách điều chỉnh này làm mức sống của người dân giảm xuống ít nhất là trong ngắn hạn, vì vậy sẽ gặp phải rào cản chính trị từng khiến các quốc gia dân chủ chấm dứt sự tồn tại của chế độ bản vị vàng. Chính việc các quốc gia có thâm hụt ở khu vực đồng euro phải phụ thuộc vào vay nợ đã dẫn đến khủng hoảng đồng euro.

Mặc dù trước khi đồng tiền chung ra đời, ai cũng biết rõ nguy cơ khi từ bỏ đồng tiền riêng, nhưng những người sáng lập ra đồng euro vẫn tin – hoặc hy vọng – rằng các thành viên có thể tránh được những rắc rối có thể khiến họ muốn quay lại đồng tiền riêng. Cụ thể, những người sáng lập đồng euro muốn tránh thâm hụt lớn bằng cách yêu cầu một nước khi tham gia đồng tiền chung thì tổng nợ trong nước không được vượt quá 60% GDP và thâm hụt mỗi năm không được quá 3% GDP

Điều kiện thứ hai thực ra là không có giá trị. Hy Lạp, như sau này các quan chức thừa nhận, đã làm sai lệch số liệu kinh tế để đáp ứng yêu cầu. Ngay sau khi đồng tiền chung ra đời, cả Pháp và Đức, hai nền kinh tế lớn nhất và có ảnh hưởng mạnh nhất khu vực đã có thâm hụt vượt quá giới hạn, khiến cho điều kiện thứ hai trở nên vô hiệu. Người ta kỳ vọng theo thời gian, các nước thành viên sẽ có điều kiện kinh tế tương đồng nhau, không nước nào có năng suất tụt hậu quá xa để thương mại giữa các nước không bị mất cân đối nhiều. Nhưng điều này cũng không xảy ra.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s