Lý thuyết an ninh việc làm – Phần V


7. Kinh nghiệm nước ngoài về an ninh việc làm

7.1. Kinh nghiệm của Mỹ trong lập bảng phân phối thời hạn làm việc

Người ta có thể lập bảng phân phối thời hạn làm việc giữa những người lao động, chẳng hạn từ 28 đến 36 tuổi vào năm 1993 bằng cách sử dụng CPS và NLSY. Các phân vị phần trăm có thể được tính trực tiếp từ dữ liệu NLSY, bởi vì những dữ liệu này có sẵn trong nhiều tuần, cung cấp cho một phân bố tương đối liên tục. Ngược lại, việc tính toán các phân vị phần trăm từ dữ liệu CPS thì khó khăn hơn, vì thông tin chỉ có trong nhiều năm. Hàm phân phối lũy tích cho dữ liệu số nguyên là mộthàm bậc thang, và việc chuyển động theo bậc sẽ không làm thay đổi phân vị phần trăm cho tới khi đạt tới một bậc khác. Giải pháp cho vấn đề này là tính toán các phân vị phần trăm “nội suy”, giả sử là thời hạn làm việc được phân bố đồng đều trong mỗi khoảng thời gian. Phương pháp này chủ yếu liên quan đến việc lấy một trung bình trọng số của số nguyên, mà phân vị phần trăm rơi vào đó và số nguyên trước đó. Phần lớn, các số liệu trong Bảng 1 cho thấy rằng hai phân phối thời hạnlàm việc tương đồng đến đáng ngạc nhiên. Ví dụ, thời hạn trung bình bằng cách sử dụng CPS là 3.34, trong khi đối với NLSY là 3.46. Người ta có thể kỳ vọng là các mục cuối trên của các phân phối sẽ cho thấy sự chênh lệch lớn nhất, bởi vì các vấn đề nhớ lại có thể là lớn hơn đối với những người trả lời CPS với các thời lượng làm việc dài hơn. Tuy nhiên, tại phân vị phần trăm thứ 90, có sự khác biệt nhỏ giữa hai phân phối, với thời hạn làm việc CPS ghi 11.22 và thời hạn làm việc NLSY ghi 11.13. Dữ liệu về thời hạn làm việc của các phân nhóm dựa trên giới tính, chủng tộc hoặc tộc người, và giáo dục cũng được thể hiện trong bảng. Đối với hầu hết các phân nhóm, hai phân phối thời hạn làm việc không giống hệt như đối với mẫu đầy đủ, nhưng các khác biệt thường là tương đối nhỏ. Những chênh lệch lớn nhất xuất hiện trong số những người da đen và những người bỏ học ở bậc trung học tại phân vị phần trăm thứ 90, trong đó dữ liệu về thời hạn làm việc CPS cao hơn khoảng 1 năm so với số liệu thời hạn làm việc NLSY. Do đó, có một số bằng chứng cho thấy dữ liệu CPS có thể có vấn đề khi các thời lượng công việc dài hơn giữa các nhóm này (U.S. Department of Labor, Women’s Bureau 1988).

Dưới đây là một số cách đo có thể tham khảo, của CPS – Văn phòng Khảo sát Dânsố Hiện tại (Current Population Survey) Hoa Kỳ và NLSY – Khảo sát Dọc Thanh niên Quốc gia (NLSY – National Longitudinal Survey of Youth) Hoa Kỳ.

7.1.1. Các biến số phân phối thời hạn làm việc

Bảng 1. Phân phối thời hạn làm việc trong độ tuổi 28 – đến 36 tuổi, Văn phòng Khảosát

Dân số Hiện tại (CPS) và Khảo sát Dọc Thanh niên Quốc gia (NLSY) 1993.

Đặc điểm Phân vị phần trăm (Percentile)
10th 25th Mêđian (Median) 75th 90th
Tổng 0.04 1.04 3.34 7.00 11.22
C

S

0.04 1.

4

3.34 7.00 11.22
NLSY   .37 1.13 3.46 7.03 11.13
Giới tính
Nam
CPS   .04 1.19 4.00 7.52 11.28
NLSY   .35 1.13 3.19 6.62 10.83
Nữ
CPS   .0  .97 2.91 6.47 11.17
NLSY   .38 1.13 3.19 6.62 10.83
Chủng tộc
Da trắng
CPS  

.04

1.10 3.60 7.22 11.31
NLSY   .37 1.15 3.54 7.1 11.27
Da đen
CPS  .04  .92 2.91 6.72 11.37
NLSY   .29  .92 3.08 6.44 10.15
Tây Ban Nha
CPS  

.04

1.00 2.42 5.78 10.01
NLSY   .35 1.19 3.17 6.19 10.57
Giáo dục
Bỏ học Trung học
CPS   .03 .85 2.54 4.87 9.67
NLSY.   .17 .65 1

2

5.56 8.87
Tốt nghiệp Trung học
CPS   .04 1.04 3.73 7.97 12.15
NLSY   .29 1.08 3.46 7.58 12.62
Có học đại học
CPS   .04 1.14 3.67 7.61 11.74
NLSY   .44 1.19 3.48 6.94 10.92
Tốt nghiệp Đại học
CPS   .04 1.08 3.03 6.12 9.41
NLSY  

60

1.52 3.77 6.88 9.88

Danh mục “Người Mỹ gốc Tây Ban Nha” bao gồm người gốc Tây Ban Nha da trắng và da đen. Danh mục “người da đen” chỉ bao gồm người da đen không phải gốc Tây Ban Nha. Danh mục “người da trắng” bao gồm tất cả những người không phải dađen và không phải là người gốc Tây Ban Nha. Những khác biệt trong hai phân phốithời hạn làm việc có nhạy cảm với các dao động chu kỳ kinh doanh không? Thời hạnlàm việc có thể thay đổi với những thay đổi trong chu kỳ kinh doanh do những thay đổi tương ứng trong thành phần của người lao động. Ví dụ, sự mở rộng kinh tế có thể dẫn đến việc tuyển dụng lao động nhiều hơn và dẫn đến một mẫu lao động có tay nghề thấp lớn hơn hoặc những người lao động với thời hạn làm việc ít hơn. Ngược lại, sự thu hẹp kinh tế có thể dẫn đến việc tuyển dụng ít hơn số lao động ít kinh nghiệm, và do đó nhóm người lao động có thể có thời hạn làm việc dài hơn. Bởi vì việc nhớ lại có thể có vấn đề nhiều hơn đối với những người có thời hạn làm việc dài hơn, đặc biệt là khi sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu của CPS, thì những khác biệt dữ liệu về thời hạn làm việc của CPS và NLSY có thể nghiêm trọng hơn trong các giai đoạn thu hẹp về kinh tế. Bảng 2 cung cấp thông tin về thời hạnlàm việc trung bình năm 1988 và năm 1993 để xem xét dữ liệu ở hai điểm trong chu kỳ kinh doanh. (Nardone Thomas, Jonathan Veum, and Julie Yates 1997).

7.1.2. Đo lường việc làm phát sinh (ngẫu nhiên)

Bảng 2. Số năm làm việc trung bình của những người từ 28 đến 31 tuổi, Điều tra Dân số Hiện tại (CPS) và Khảo sát Theo Thanh niên Quốc gia về Niên giám Quốc gia (NLSY), 1988 và 1993

Đặc điểm 1988 1993
CPS NLSY CPS NLSY
Tổng 2.50 2.52 2

87

3.00
Giới tính
Nam 2.65 2.69 3.38 3.04
Nữ 2.37 2.25 2.59 2.97
Chủng tộc
Da trắng 2.65 2.62 3.16 3.08
Da đen 2.31 2.13 2.31 2.65
Tây Ban Nha 1.66 2.29 1.75 2.73
Giáo dục
Bỏ học Trung học 1.53 1.58 1.93 1.67
Tốt nghiệp Trung học 2.3 2.83 3.21 2.93
Có học đại học 3.03 2.36 3.27 3.3
Tốt nghiệp đại học 2.56 2.75 2.61 3.1

(còn tiếp) 

Nguồn: http://kattigara-echo.blogspot.com

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s