Phản ứng của Trung Quốc khi Việt Nam tiết lộ nội dung đàm phán COC


Tháng 8/2018, Trung Quốc và các nước ASEAN đã đạt được thỏa thuận về một “văn bản duy nhất” sau các cuộc đàm phán COC, đánh dấu việc đàm phán COC bước vào giai đoạn mới. Trung Quốc và các nước ASEAN sẽ tiến hành đàm phán quyết liệt và gay gắt về vấn đề Biển Đông trong vài năm tới. Những ngày gần đây, phía Việt Nam đã tiết lộ với phương Tây một số tiến triển trong đàm phán và đề xuất một loạt yêu cầu về mục tiêu. Cuộc đàm phán COC tiến triển ra sao, sẽ đạt được tiến triển thực chất ở lĩnh vực nào, và có những thiếu sót gì?

Ngày 8/1, tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng của Hong Kong, Trung Quốc đã đăng bài viết của nhà nghiên cứu người Philippines Aaron Labena thuộc Hội đồng quan hệ đối ngoại Philippines (PCFR), cho biết dự thảo văn bản đàm phán COC mà Việt Nam cố ý tiết lộ cho thấy các cuộc đàm phán đã đạt được tiến triển. Trong bối cảnh các bên khác đều tuân thủ nghiêm ngặt nội dung cuộc đàm phán, Việt Nam cố tình thể hiện lập trường cứng rắn nhằm giảm sức ép trong nước, tung hỏa mù với bên ngoài.

Hiện nay, văn bản COC vẫn chưa được công bố, nhưng nội dung mà Việt Nam tiết lộ chứng thực các bên đã tiến hành thảo luận căng thẳng va đạt được một số thành quả về 5 vấn đề then chốt, gồm: phạm vi địa lý, giải quyết tranh chấp, nghĩa vụ hợp tác, vai trò của bên thứ ba và địa vị pháp lý. Các điều khoản của COC về giải quyết tranh chấp và nghĩa vụ hợp tác đi sâu hơn so với Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc và ASEAN đạt được vào năm 2002, đề ra phương án giải quyết tranh chấp bao gồm các lựa chọn như sử dụng hòa giải, điều đình và thành lập ủy ban cấp cao.

COC còn đề xuất hợp tác giữa Trung Quốc và các nước ASEAN trong 5 lĩnh vực hợp tác an ninh phi truyền thống, mở rộng phạm vi hợp tác trên biển để chống lại việc đánh bắt cá bất hợp pháp, tăng cường thông tin liên lạc trên biển, và hợp tác khai thác tài nguyên dầu mỏ và khí thiên nhiên. Trong vấn đề này, Trung Quốc đã đưa ra yêu cầu rõ ràng rằng hợp tác liên quan đến kinh tế biển không nên bao gồm các quốc gia ngoài khu vực.

Trong việc thiết lập các biện pháp tin cậy lẫn nhau, ngoài giao lưu quân sự, hỗ trợ nhân đạo cho những người gặp nạn trên biển và chủ động thông báo các cuộc tập trận quân sự chung, COC còn đề xuất các phương thức như trao đổi thông tin giữa tất cả các bên, thăm viếng lẫn nhau giữa các tàu chiến, tuần tra chung và tập trận quân sự định kỳ giữa các bên… nhằm tăng cường sự tin cậy lẫn nhau. Trung Quốc tìm cách đảm bảo thực thi quyền phủ quyết đối với các cuộc tập trận quân sự chung giữa các nước ASEAN với các nước ngoài khu vực.

Những chi tiết này xác nhận các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và ASEAN đã đạt được tiến triển lớn. Điều này đóng một vai trò quan trọng trong việc chấm dứt tình trạng hỗn loạn giữa các bên ở Biển Đông trong vài thập kỷ qua và tình trạng một số quốc gia lôi kéo các nước lớn ngoài khu ực tham dự.

Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, các bên cũng dựa trên lợi ích của mình để đưa ra nhiều yêu cầu đối với các vụ va chạm nghiêm trọng. Những yêu cầu này liên quan đến các vấn đề như “Đường 9 đoạn” ở Biển Đông, việc xây dựng và triển khai trang thiết bị và vũ khí trên các đảo, bãi. Ngoài ra, một số nước “ôm ảo tưởng” về các nước ngoài khu vực, hy vọng đưa bên thế ba vào phát huy vai trò ở Biển Đông.

Philippines muốn bảo lưu các quyền đánh bắt truyền thống, đảm bảo Philippines có thể thực hiện các hoạt động đánh bắt cá trong ngư trường truyền thống của họ. Đó là một số vùng biển trong phạm vi “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, chẳng hạn như vùng biển quanh đảo Hoàng Nham (bãi cạn Scarborough).

Aaron Labena cho biết những tiến triển đạt được trong quá trình đàm phán COC trong các lĩnh vực hợp tác an ninh phi truyền thống, thiết lập đường dây nóng quân sự và tiến hành các cuộc tập trận quân sự chung phần lớn chỉ là các hành động mang tính tượng trưng. Những yêu cầu cụ thể được các bên đề xuất cũng rất quan trọng, bởi việc thiếu các quy định kỹ thuật rõ ràng có thể dẫn đến các hành động không thể dự đoán gây nguy hiểm cho sự ổn định trong khu vực. Trung Quốc và ASEAN còn cần phải tiến hành đàm phán trên 4 phương diện sau:

Trước hết, về phạm vi địa lý của COC. Hiện các bên đều đã tránh các đảo, bãi do chính họ kiểm soát. Tuy nhiên, các vụ việc như cuộc đối đầu ở đảo Hoàng Nham năm 2012 và cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Việt Nam tại quần đảo Tây Sa (Việt Nam gọi là Hoàng Sa) năm 2014 đều đã đến mức khủng hoảng. Những vấn đề cốt lõi liên quan đến chủ quyền và lãnh hải cần được đưa vào các cuộc đàm phán.

Thứ hai là về nghĩa vụ hợp tác. Các bên liên quan có thể thiết lập các khu vực biển chung, các tổ chức ngư nghiệp khu vực và các phương án du lịch biển tại quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa). Với cơ sở hạ tầng tiên tiến ngoài khơi của Trung Quốc, đảo Nam Ssa có thể được xác định là trung tâm nghiên cứu khoa học biển, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và viện trợ nhân đạo. Trung Quốc cần phải tham gia nhiều hơn vào các cam kết phúc lợi công cộng khu vực, thể hiện thái độ tuân thủ luật biển quốc tế, giảm bớt những lo ngại của các nước khác về cái gọi là quân sự hóa Biển Đông.

Tất cả các bên cần phải tăng cường tự ràng buộc, các điều khoản cấm nên được áp dụng cho cả hành động đơn phương triển khai các giàn khoan dầu và thăm dò năng lượng, tránh sử dụng thiết bị vô tuyến điện cảnh báo máy bay nước ngoài. Các bên cũng cần phải xác định rõ khái niệm quân sự hóa, và định vị một số thiết bị lưỡng dụng như trạm quan trắc khí tượng.

Thứ ba là vấn đề vai trò của các nước thứ ba. Ngoài Trung Quốc và các nước ASEAN, các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia đều có lợi ích địa chính trị của mình ở Biển Đông. Mỹ cho rằng thực lực quân sự lớn mạnh của Trung Quốc có thể phong tỏa vùng biển này khi cần thiết, đồng thời coi hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông là một tín hiệu cho thấy Trung Quốc đã làm thay đổi trật tự quốc tế hiện có. Còn các hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông bị Trung Quốc coi là hành động khiêu khích.

Sự can dự của các nước lớn ngoài khu vực là một nhân tố khách quan không thể xem thường. Liệu có tồn tại khả năng đưa các nước ngoài khu vực vào khuôn khổ, khiến Mỹ tuân thủ các quy tắc ứng xử hay không? Một nước Mỹ không bị rằng buộc sẽ chỉ tiếp tục gây rắc rối cho Trung Quốc. Nếu Mỹ tham gia, các nước lớn chủ chốt khác cũng sẽ tham gia, mở rộng COC đến mức độ mang tính ràng buộc đối với tất cả các nước lớn chủ chốt. Đây cần phải là một chủ đề mở.

Thứ tư là vấn đề ràng buộc pháp lý của COC. Nếu một nước có yêu sách chủ quyền nào đó vi phạm COC hoặc không tuân thủ quy định thì cần phải định ra chế tài hoặc các điều khoản xử phạt. Hiện nay, các cuộc đàm phán COC vẫn chưa đề cập đến nhân tố này. Đối với ASEAN, COC rất quan trọng để chứng minh vị thế và năng lực của những nước ASEAN tham gia. Đối với Trung Quốc, đây lại là cơ hội để các nước khác bày tỏ lo ngại về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông. Nếu COC là không thể đạt được hoặc khó thực hiện thì Trung Quốc và ASEAN đều là những bên thua cuộc.

Năm 2019 và 2020 là giai đoạn quan trọng để đàm phán COC. Điều cần phải chỉ ra là từ những chi tiết của các cuộc đàm phán hiện tại, các bên cần tuân thủ con đường từ dễ đến khó, bắt đầu tư hợp tác an ninh phi truyền thống ở rộng đến điểm hợp tác và nhận thức chung, tuần tự từng bước. Những trở ngại trên con đường này là khá ít, các bên có thể đạt được mục tiêu trong từng giai đoạn.

Bốn kiến nghị mà học giả Philippines đưa ra đã chạm đến mâu thuẫn sâu sắc trong vấn đề Biển Đông. Các bên có ý định gác lại bất đồng trong các vấn đề sở hữu đảo, bãi, chủ quyền lãnh thổ và vị thế “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, cũng như các đảo, bãi bị các nước khác chiếm đóng trái phép, sự can thiệp của các nước lớn ngoài hu vực…, bởi nếu giai đoạn đầu của cuộc đàm phán chạm đến những mâu thuẫn sâu sắc thì các cuộc đàm phán COC có thể sẽ thất bại nửa chừng.

Tuy nhiên, sau khi Việt Nam cố ý tiết lộ chi tiết về các cuộc đàm phán với nước Anh, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Rosario tuyên bố rằng ông khâm phục các hành động cảu Việt Nam. Philipines nên hợp tác với Việt Nam trong vấn đề Biển Đông, ủng hộ lập trường của Việt Nm trong các cuộc đàm phán. Ngày 7/1/2019, tàu khu trục của quân đội Mỹ lần đầu tiên trong năm 2019 đã tiến vào lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa, áp sát đảo Vĩnh Hưng (Việt Nam gọi là đảo Phú Lâm) và đảo Triệu Thuật (Việt Nam gọi là đảo Cây).

Những hành động này nhắc nhở Trung Quốc rằng sách lược đàm phán trước dễ sau khó sẽ giúp các bên đạt được nhận thức chung, nhưng Trung Quốc cần phải đề phòng tình hình bất lợi về việc một số nước bắt tay riêng với nhau để thiết lập các điều khoản có tính mục đích. Về phương diện chủ quan liên quan đến chủ quyền và việc loại bỏ sự can thiệp của các nước ngoài khu vực, nay từ khi bắt đầu đàm phán Trung Quốc cần phải thể hiện rõ lập trường chứ không nên né tránh. Trung Quốc càng mạnh mẽ chống lại sự can thiệp của Mỹ, các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và ASEAN sẽ càng thuận lợi. Về mặt này, ý chí và khả năng cũng quan trọng như nhau.

Nguồn: www.bannedbook.org

TLTKĐB – 09/03/2019

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s