Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới


I/ Sự ra đời của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

Hiệp định chung là hiệp định quốc tế nhiều bên về các quy tắc và trình tự điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế, quy định cụ thể quyền lợi và nghĩa vụ giữa các nước thành viên tham gia ký kết hiệp định.

Rút bài học kinh nghiệm lịch sử, đặc biệt là bài học khủng hoảng kinh tế năm 1929, Mỹ tích cực hô hào thành lập tổ chức thương mại quốc tế nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử và những trở ngại trong thương mại, thúc đẩy phục hồi kinh tế, tăng cường vai trò lãnh đạo của Mỹ trong nền kinh tế thế giới. Không bao lâu sau khi thành lập Ủy ban kinh tế – xã hội Liên hợp quốc, Mỹ đề nghị triệu tập hội nghị thương mại và việc làm của Liên hợp quốc nhằm thành lập một tổ chức thương mại quốc tế. Tháng 2/1946, Ủy ban kinh tế – xã hội Liên hợp quốc chấp nhận đề nghị của Mỹ, tiếp đó tại London, New York, họp sơ bộ thẩm định và tu chỉnh “Dự thảo hiến chương tổ chức thương mại quốc tế thuộc Liên hợp quốc” do Mỹ soạn thảo. Tháng 10/1947, hội nghị về thương mại và việc làm do Liên hợp quốc chủ trì họp tại Havanna (nay là La Habana – Cuba) đã thông qua “Tuyên bố Havanna” về tổ chức thương mại quốc tế. Ngày 24/3/1948 có 56 nước ký tuyên bố cuối cùng. Nhưng do Quốc hội Mỹ không phê chuẩn, chính phủ các nước khác cũng không đưa ra lời cam kết nào, thế là “tổ chức thương mại quốc tế” chết yểu. Sự chết yểu của nó để lại một khoảng trống lớn về thể chế quan hệ kinh tế quốc tế sau chiến tranh.

Trong quá trình thảo luận và tu chỉnh “Tuyên bố Havanna”, mùa hè năm 1947, do Mỹ khởi xướng, 23 nước họp tại Geneva đàm phán về việc cùng ký kết “Hiệp định chung”. Lúc đó, do “Tuyên bố Havanna” chưa được phê chuẩn, cho nên người ta lấy chính sách thương mại trong tuyên bố ấy làm nội dung chính của hiệp định này và đưa cả những thỏa thuận đã đạt được khi đàm phán về cùng miễn giảm thuế vào hiệp định. Ngày 1/1/1948 Hiệp định chung bắt đầu có hiệu lực. Bấy giờ có 23 nước ký “văn bản hiệp định tạm thời”, trong đó có 12 nước là các nước phát triển. Do vậy, nhiều nước đang phát triển gọi Hiệp định thương mại quốc tế nhiều bên mà các nước công nghiệp chiếm đa số và chi phối này là “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới”.

Từ đó, Hiệp định chung trở thành hiệp định quốc tế nhiều bên duy nhất trong nền thuơng mại quốc tế, “tạm thời” thay thế vai trò của “Tuyên bố Havanna”. Trải qua hơn 40 năm “tạm thời áp dụng”, nó trở thành hiệp định quốc tế lâu dài trong thực tế.

II/ Tính chất và tôn chỉ của hiệp định chung

Về tính chất, Hiệp định chung là một hiệp định quốc tế nhiều bên quy định những nguyên tắc thuế quan và thương mại. Nó liên quan tới các mặt kinh tế và thương mại giữa các nước ký kết hiệp định. Những quy định trong hiệp định có ý nghĩa chính trị, kinh tế quan trọng. Nó là công cụ quan trọng đối với việc tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại trên thế giới.

Văn bản chính thức của Hiệp định chung ghi rõ tôn chỉ của hiệp định là: “Chính phủ các nước ký kết hiệp định nhận thấy rằng, giải quyết quan hệ thương mại và kinh tế giữa họ với nhau là nhằm mục đích nâng cao mức sống, bảo đảm việc làm, tăng nhanh và liên tục thu nhập thực tế với nhu cầu hữu hiệu, sử dụng đầy đủ nguồn tài nguyên của thế giới, phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa. Nhằm mục đích trên, các nước này mong muốn đi tới thỏa thuận cùng ưu đãi, cùng có lợi, giảm mạnh thuế quan và các trở ngại khác trong thương mại, xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế”. Câu trên của đoạn văn này nói về tôn chỉ của hiệp định, câu dưới nói về phương tiện và phương thức thực hiện mục đích ấy. Xét từ góc độ lý luận kinh tế chung, nó lấy lý luận kinh tế thị trường làm cơ sở, chủ trương tự do hóa kinh tế, phân phối và sử dụng tài nguyên trên bình diện thế giới để phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa. Xét về mặt lý luận thương mại quốc tế, nó chủ trương tự do thương mại quốc tế, tự do lưu động tài nguyên trên thế giới nhằm đạt hiệu quả kinh tế tối ưu, tiết kiệm lao động, tăng mức sống và phúc lợi. Muốn đạt mục tiêu này thì phải dỡ bỏ mọi vật cản gây trở ngại cho sự phát triển thương mại quốc tế. Cùng ưu đãi, cùng có lợi là tiền đề phát triển quan hệ thương mại bình đẳng. Giảm mạnh thuế và các vật cản thương mại khác là phương tiện và phương thức chủ yếu. Tuân thủ các quy tắc cơ bản của hiệp định – quy chế tối huệ quốc, chế độ ưu đãi chung, xóa bỏ những hạn chế về số lượng, lấy thuế làm phương tiện bảo hộ – là bảo đảm cho việc thực hiện hiệp định một cách có hiệu quả, phát triển thương mại quốc tế một cách thuận lợi.

Tuy nhiên, trong đời sống hiện thực của nền kinh tế và thương mại quốc tế, lợi ích chủ quyền quốc gia và chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch thường xuyên thách thức tôn chỉ của hiệp định này.

III/ Vai trò và tác dụng của hiệp định chung

Lâu nay người ta bàn nhiều về vai trò của Hiệp định chung. Về tên gọi thì nó là một hiệp định chứ không phải là một tổ chức. Nhưng thực tế nó có tác dụng của một tổ chức quốc tế, hơn nữa còn có bộ máy thường trực. Nguyên Tổng giám đốc Hiệp định chung, ông Olivier Long, từng khái quát một cách ngắn gọn rằng: “Hiệp định chung gồm hai nội dung: là hiệp định thương mại nhiều bên biểu hiện trên những mặt chữ ấy và là tổ chức giám sát thực hiện hiệp định này. Nói ngắn gọn, Hiệp định chung là cái khung pháp lý điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các nước thành viên của nó, là nơi chuyên để đàm phán thương mại và tu chỉnh cái khung pháp lý ấy, đồng thời còn là tổ chức dàn xếp và giải quyết tranh chấp”. “Ngoài ra, nó còn dần dần phát triển thành diễn đàn quốc tế để các nước thành viên thông qua đàm phán mà giải quyết với thái độ hợp tác những vấn đề quan trọng nảy sinh trong quan hệ thương mại giữa họ với nhau”. Lời khái quát này đã nói lên đầy đủ vai trò và chức năng của hiệp định. Thực tiễn cho thấy, Hiệp định chung thực sự là một tổ chức thương mại quốc tế, phụ trách đàm phán thương mại nhiều bên, tìm cách giảm thuế và các hàng rào phi thuế quan và là diễn đàn dàn xếp tranh chấp thương mại, tìm cơ hội mở rộng thương mại.

Xét từ góc độ luật pháp quốc tế, Hiệp định chung là một bộ phận cấu thành hữu cơ của công pháp quốc tế, nó điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các nước và lấy chính sách thương mại của các bên ký kết hiệp định làm đối tượng quản lý. Hiệp định chung được hình thành từ một loạt các văn kiện pháp lý, do vậy tự nó là một hệ thống luật. Khung cơ bản của nó là: 1) Hiệp định chung, gồm 38 điều khoản và 9 phụ lục; 2) Quy tắc hành vi, gồm 6 quy tắc là: quy tắc về nhà nước thu mua; quy tắc về thủ tục giấy phép; quy tắc về định giá hải quan; quy tắc về hàng rào thương mại có tính chất kỹ thuật; quy tắc chống bán phá giá; quy tắc về trợ giá và chống trợ giá; 3) Những văn bản thỏa thuận về hàng hóa, gồm có ba văn bản: thỏa thuận về các chế phẩm làm từ sữa; thỏa thuận về thịt bò và thỏa thuận về hàng không dân dụng; 4) Các nghị định thư, quyết định văn bản giải thích, gồm có: nghị định thư về tạm thời thực hiện HIệp định chung; nghị định thư của các vòng đàm phán nhiều bên; quyết định về ưu đãi đối với các nước đang phát triển; văn bản giải thích trình tự giải quyết tranh chấp; 5) “Thỏa thuận nhiều bên về hàng dệt” tạm thời chưa áp dụng quy tắc của Hiệp định chung.

Hiệp định chung lúc đầu có 23 nước tham gia, nay đã tăng lên 103 nước và 30 nước quan sát viên (1992). Nó từ chỗ là “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” dần dần thật sự trở thành “Liên hợp quốc kinh tế, thương mại”.

Hiệp định chung có tác dụng quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế thế giới, nền thương mại quốc tế phát triển sau chiến tranh.

Một là, thông qua đàm phán giảm mạnh thuế, ức chế được chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế. Năm 1947, sau vòng đàm phán nhiều bên lần thứ nhất, thuế suất hàng nhập khẩu giảm bình quân 54%. Năm 1979, sau khi kết thúc vòng đàm phán thứ 7 (vòng Tokyo), thuế suất hàng nhập khẩu của các nước phát triển giảm còn 5%, của các nước đang phát triển giảm còn bình quân khoảng 18%.

Hai là, sáu quy tắc hành vi nói ở trên được áp dụng để hạn chế hàng rào phi thuế quan. Song, đúng như một học giả phương Tây đã vạch ra: “giảm thuế giống như tháo nước đầm lầy, nước rút thì các thân và gốc cây hàng rào phi thuế quan đều lộ ra, những cái đó cần phải phạt bỏ”.. Từ những năm 50 về sau, hàng rào phi thuế quan chỉ giảm chút ít. Sau vòng đàm phán Tokyo, tác dụng của việc hạn chế hàng rào phi thuế quan không bằng giảm thuế.

Ba là, các nước đang phát triển giành được quyền bày tỏ ý kiến tập thể trong khuôn khổ pháp lý của hiệp định, cải thiện được điều kiện thương mại ở mức độ nhất định. Năm 1965, Hiệp định chung bổ sung thêm các điều khoản (điều 36 – 38) riêng về việc giải quyết các vấn đề thương mại và phát triển của các nước đang phát triển, là phần thứ tư của hiệp định này. Phần này quy định rằng: “Khi đàm phán thương mại, các nước ký hiệp định là các nước phát triển cam kết giảm hoặc xóa bỏ thuế và các hàng rào khác trong thương mại với các nước ký hiệp định là các nước đang phát triển thì họ không được yêu sách đòi được ưu đãi trở lại”. Điều này đặt cơ sở pháp lý cho các nước đang phát triển được đối xử khác với nước phát triển và được ưu đãi hơn.

Bốn là, Hiệp định chung là nơi dàn xếp và giải quyết các tranh chấp. Cơ chế đồng bộ của nó trong việc dàn xếp và giải quyết tranh chấp có tác dụng làm dịu mâu thuẫn và cọ sát thương mại giữa các nước ký kết hiệp định. Nó có sức ràng buộc về đạo lý, không nước nào muốn vi phạm để rồi chuốc lấy sự chỉ trích công khai của tất cả các nước ký kết hiệp định.

Năm là, nó có sức hấp dẫn mạnh đối với các nước chưa ký kết, từng bước lôi cuốn đa số các nước trên thế giới vào hệ thống thương mại quốc nhiều bên. Nó cũng mở cửa đối với các nước chưa ký kết.

Sáu là, thúc đẩy trao đổi thông tin về kinh tế, thương mại thế giới, tăng độ “minh bạch” trong việc quản lý thương mại quốc tế. Cái gọi là độ “minh bạch” có hai hàm ý. Một là, đòi hỏi phải quản lý theo quy chế của hiệp định, công khai chính sách và pháp quy thương mại; hai là, các nước ký kết hiệp định quản lý ngoại thương bằng các biện pháp “minh bạch”, tức là ra sức quản lý bằng thuế quan, giảm tới mức tối đa những hạn chế về số lượng và các biện pháp phi thuế quan khác.

Bảy là, trong quá trình phát triển sau này của nền kinh tế thương mại thế giới nó sẽ có tác dụng và ảnh hưởng rộng lớn hơn. Cuộc đàm phán thương mại nhiều bên vòng thứ tám – vòng đàm phán Uruguay, ba đề mục mới có liên quan tới thương mại là vấn đề sở hữu trí tuệ, biện pháp áp dụng đối với đầu tư và buôn bán dịch vụ đã được đưa vào nội dung đàm phán cả gói. Vì vậy có thể thấy rằng, từ nay về sau, chức năng, phạm vi quản lý và tác dụng của hiệp định này đều sẽ được tăng cường hơn.

Song, từ những năm 80, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ngóc đầu dậy, tác dụng của hiệp định cũng bị hạn chế với mức độ nhất định.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bột các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s