Trong một thế giới kết nối, kinh doanh giỏi là làm lợi cho xã hội – Phần cuối


Kết nối và thay đổi thế giới

Trong kỷ nguyên mà thế giới ngày càng có tính kết nối cao, các công ty dễ dàng cộng tác hơn với nhiều bên liên quan – bằng cả hình thức trực tuyến hay trực tiếp – để đạt được mục tiêu kinh doanh và xã hội. Unilever nêu tấm gương như thế tại Indonesia. Dựa trên dữ liệu của họ, trung bình có 80% rác thải của thế giới (lên đến 116 triệu tấn mỗi năm) được đem đổ bỏ tại những bãi rác. Với diện tích bãi rác có giới hạn tại các thành phố ở Indonesia, dĩ nhiên điều này dẫn đến nhiều hệ lụy. Với ý tưởng chương trình Xanh và Sạch, Quỹ Unilever Indonesia đang trao quyền cho cộng đồng địa phương để chịu trách nhiệm điều hành và xử lý (phân loại, tái chế, và ủ thành phân,…) rác sinh hoạt tại các hộ dân.

Nhưng Unilever không một mình mà thực hiện được chương trình này. Công ty sử dụng một phương pháp có tên là mô hình mạng lưới nòng cốt. Lực lượng chủ chốt trong mô hình này là những người phụ trách hoặc điều phối chịu trách nhiệm thôi thúc cộng đồng xung quanh họ tham gia vào chương trình. Họ là những tình nguyện viên hàng đầu đến từ cộng đồng địa phương và đã qua tập huấn với một đội ngũ nội bộ của Unilever. Các nội dung tập huấn gồm vấn đề chất thải hiện tại, kiến thức về chương trình, kỹ năng kết nối các cá nhân, và phân tích về môi trường.

Lực lượng nòng cốt đã trở thành những nhân tố tạo nên sự thay đổi thật sự trong cộng đồng địa phương. Họ là người duy trì khả năng tồn tại của chương trình bằng việc liên tục tạo động lực cho người dân trong địa phương đó, giúp người dân không mất đi tinh thần khi những việc tốt cho môi trường sống. Mô hình mạng lưới lực lượng cốt lõi đã chứng tỏ khá thành công. Cuối năm 2010, số lượng các tình nguyện viên nòng cốt đã lên con số đáng kinh ngạc là 135.000 người so với năm 2001 chỉ có 2 người!

Thật vậy, thành công thực sự mà chương trình Xanh và Sạch đạt được không chỉ nhờ vào việc tiếp cận cộng đồng mà còn nhờ yếu tố quan trọng là sự hợp tác. Sử dụng mô hình các bên liên quan theo hướng cả doanh nghiệp, người tiêu dùng lẫn cộng đồng đều có nghĩa vụ và quyền lợi, Unilever khuyến khích sự tham gia của chính quyền địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng, lẫn các tổ chức phi chính phủ có cùng mục tiêu. Kết quả là sau nhiều năm, vấn đề chất thải môi trường đã trở nên ít trầm trọng hơn vì nó đã được xử lý từ nhiều góc độ.

Sự tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật số cho phép các công ty hợp tác với nhiều bên khác nhau, cả khách hàng (hợp tác hạ lưu) lẫn các nhà cung cấp (hợp tác thượng nguồn). Với tinh thần chú trọng con người, sự hợp tác được xây dựng với mục đích để tạo ra một sự biến đổi tích cực, vượt ra ngoài mối quan hệ kinh doanh giao dịch đơn thuần. ITC là một ví dụ về một công ty đã cải thiện phúc lợi của những người nông dân, biến họ trở thành nhà cung cấp cho mình thông qua việc sử dụng công nghệ truyền thông (xem Khung 2).

Khung 2: Sáng kiến e-Choupal của Tập đoàn ITC ở Ấn Độ

e-Choupal là một mô hình kinh doanh đi kèm với một sứ mạng xã hội. e-Choupal được thiết kế để trao quyền cho người nông dân, tạo ra vòng tuần hoàn: năng suất cao hơn, thu nhập cao hơn, năng lực quản lý rủi ro tốt hơn và từ đó đầu tư lớn hơn để rồi lại đạt được năng suất cao hơn và chất lượng tốt hơn. Đây là sáng kiến của ITC, một tập đoàn đa ngành ở Ấn Độ, nhằm liên kết trực tiếp với nông dân ở vùng nông thôn thông qua Internet để thu mua các sản phẩm nông nghiệp như đậu nành, lúa mì, cà phê, tôn. e-Choupal giải quyết những thách thức mà nền nông nghiệp Ấn Độ phải đối mặt như nông trại phân tán, cơ sở hạ tầng yếu kém, trung gian lợi dụng sự thiếu thông tin về thị trường (người mua) để ăn chặn người nông dân.

e-Choupal là một ví dụ hay cho thấy các sáng kiến chú trọng con người có thể sử dụng công nghệ để tạo ra sự kết nối giữa nhiều bên liên quan khác nhau. Chương trình này lắp đặt các máy tính có truy cập Internet ở các vùng nông thôn để cung cấp cho nông dân những thông tin mới nhất về nông nghiệp và tiếp thị. Công ty đã cung cấp máy tính và truy cập Internet ở một số vùng nông nghiệp của đất nước, nơi nông dân có thể trực tiếp đàm phán bán sản phẩm của họ với người mua là ITC. Kết nối kỹ thuật số cho phép nông dân có được thông tin về giá cả hàng hóa, học tập các kỹ thuật canh tác tốt, và đặt hàng các sản phẩm đầu vào nông nghiệp như hạt giống và phân bón. Điều này giúp nông dân cải thiện chất lượng sản phẩm của họ và có được một mức giá tốt hơn. Trung gian không thể can thiệp vào việc định giá được nữa.

Mỗi ki-ốt truy cập Internet của ITC được một sanchalak – một nông dân đã qua đào tạo – quản lý. Ki-ốt – cùng với máy tính và truy cập Internet – trở thành một trung tâm cộng đồng. Mỗi ki-ốt phục vụ trung bình 600 nông dân ở 10 làng lân cận trong bán kính khoảng 5 km. Các sanchalak tự chi trả một số chi phí hoạt động nhưng bù lại họ kiếm được một khoản phí dịch vụ cho các giao dịch điện tử thực hiện thông qua e-Choupal của mình. Abhishek Jain, một nông dân trồng đậu nành và là một sanchalak e-Choupal ở quận Madhya Pradesh, cho biết:

Trước khi ITC giới thiệu chúng tôi với e-Choupal, chúng tôi đã bị hạn chế bán sản phẩm của mình tại thị trường địa phương. Chúng tôi phải qua trung gian và giá thấp. Hôm nay chúng tôi là một cộng đồng nông dân điện tử có thể tiếp cận được giá cả hàng ngày của nhiều loại cây trồng ở Ấn Độ và nước ngoài – điều này giúp chúng tôi có được giá tốt nhất. Chúng tôi cũng có thể tìm hiểu về nhiều điều quan trọng khác – dự báo thời tiết, kỹ thuật canh tác mới nhất, bảo hiểm mùa màng,… e-Choupal không chỉ thay đổi chất lượng cuộc sống của chúng tôi mà còn là toàn bộ tương lai của chúng tôi.

e-Choupal đã kích hoạt một sự biến đổi kinh tế xã hội ở các vùng nông thôn Ấn Độ. Kể từ khi thực hiện, nông dân nhận thấy có sự gia tăng thu nhập và cải thiện chất lượng đầu ra. Chương trình cũng cắt giảm trung gian, tạo ra ít chi phí giao dịch hơn cho nông dân. Nông dân có thể nhận được thông tin theo thời gian thực cho dù họ ở xa thị trường. Đồng thời, hệ thống này cũng giúp tiết kiếm chi phí mua sắm và cung cấp nguồn đầu vào sản xuất bền vững hơn cho công ty ITC.

Những can thiệp này đã giúp chuyển đổi các cộng đồng làng thành các tổ chức kinh tế sôi động bằng cách tăng thu nhập và cùng nhau tạo ra thị trường. e-Choupal phục vụ 40.000 ngôi làng và 4 triệu nông dân, biến nó trở thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật số nông thôn lớn nhất thế giới mà một doanh nghiệp tư nhân tạo ra.

Cho dù các quốc gia châu Á vẫn phải vật lộn với nhiều vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường nhưng đồng thời những thách thức này cũng là những cơ hội cho các doanh nghiệp sáng tạo đưa ra những giải pháp mới mẻ thông qua mô hình kinh doanh của họ. Các vị dụ trên phần nào cho thấy quan điểm chú trọng con người có thể phát huy hiệu quả trong kỷ nguyên mới này khi nó tận dụng được công nghệ để kết nối nhiều bên liên quan lại với nhau. Sự h ợp tác giữa các bên là yếu tố không thể thiếu trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống tại các xã hội châu Á. Những sự hợp tác như vậy cần kết hợp hiệu quả các phương pháp trực tuyến lẫn ngoại tuyến thì mới có thể tạo ra tác động tối ưu.

Mức độ kết nối di động thực sự chưa đồng đều giữa các quốc gia châu Á. Trong giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực, giữa các nước Đông Á phát triển (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc), một số nước Đông Nam Á (Singapore) với các khu vực khác của châu Á vẫn tồn tại một khoảng cách kỹ thuật số lớn và đây vẫn là một thách thức chung cho cả khu vực.  Trong nỗ lực nâng cao mức kết nối trong khu vực, các chính phủ cần sự hỗ trợ từ nhiều bên khác nhau, kể cả từ khu vực tư nhân. Grameenphone, một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông ở Bangladesh, đã thành công trong việc tạo sự truy cập di động gần như phổ quát (99% dân số) và trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống ở Bangladesh. Công ty này cũng đưa ra một loạt các công nghệ di động sáng tạo để mang lại sự tiện lợi cho người dân trong các hoạt động kinh tế và xã hội của họ (xem Khung 3).

Khung 3: Công ty Grameenphone ở Bangladesh

Grameenphone là nhà cung cấp dịch vụ di động lớn nhất tại Bangladesh với hơn 56 triệu thuê bao (tính đến tháng 01/2016). Đây là một công ty liên doanh giữa Telenor và Tập đoàn viễn thông Grameen. Grameenphone là công ty đầu tiên giới thiệu công nghệ GSM ở Bangladesh và xây dựng mạng di động đầu tiên phủ sóng 99% đất nước. Iqbal Quadir đã lấy cảm hứng từ mô hình tín dụng vi mô của Ngân hàng Grameen để sáng lập nên Grameenphone với mô hình kinh doanh nơi chiếc điện thoại di động đóng vai trò như một nguồn thu nhập. Ý tưởng ở đây là cung cấp dịch vụ truy cập điện thoại di động phổ quát trên khắp Bangladesh gồm cả khu vực nông thôn, đây sẽ là yếu tố giúp đẩy nhanh quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội của quốc gia này.

Grameenphone đã đi tiên phong trong việc đưa ra các giải pháp sáng tạo dựa trên di động cho Bangladesh. Đáng chú ý trong số này là Healthline, một tổng đài y tế 24 giờ được chính các bác sĩ quản lý. Các sáng kiến khác gồm Studyline, một dịch vụ dạng tổng đài tư vấn giáo dục; Mobi Cash, để mua vé tàu điện tử; Billpay để thanh toán hóa đơn qua điện thoại di động vssa2 hơn 500 trung tâm thông tin cộng đồng trên khắp Bangladesh. Các trung tâm này mang lại khả năng tiếp cận Internet giá cả phải chăng và các dịch vụ cung cấp thông tin khác cho người dân ở các vùng nông thôn.

Grameenphone cũng đã triển khai Dịch vụ Tài chính Di động (MFS) cho các ngân hàng đối tác (Ngân hàng Hà Lan – Bangladesh, Ngân hàng Hồi giáo Bangladesh, Ngân hàng Mercantile, Ngân hàng ONE, và Ngân hàng United Commercial). Công ty mở 61.000 cửa hàng MobiCash nơi khách hàng đăng ký MFS với các ngân hàng đối tác, gửi tiền và rút tiền mặt, và thanh toán các hóa đơn tiện ích. Trong quý một 2015, tổng cộng 615.121 giao dịch gửi tiền và rút tiền và 1,22 triệu hóa đơn tiện ích đã được xử lý qua MobiCash, tương ứng với 1,9 tỷ taka Bangladesh hay 1,9 tỷ BDT (244 triệu USD) và 1,4 tỷ BDT (179 triệu USD).

Việc đưa chương trình MFS vào Bangladesh có thể tạo ra giải pháp cho 76% dân số chưa sử dụng dịch vụ ngân hàng ở Bangladesh. Nghiên cứu do Tập đoàn Tư vấn Boston thực hiện cho công ty Telenor năm 2011 đã dự đoán về tác động kinh tế xã hội của MFS. Khi có MFS, nền kinh tế Bangladesh cũng được lợi, giúp tổng sản phẩm quốc nội tăng thêm 2% cho đến năm 2020. Hoạt động kinh doanh mới mẻ này cũng đóng góp về mặt kinh tế và xã hội ở chỗ tạo ra 500.000 việc làm mới và cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Để thể hiện trách nhiệm xã hội của mình, Grameenphone còn khởi xướng chương trình Trường học trực tuyến ở Bangladesh. Ý tưởng về Trường học Trực tuyến là một giáo viên dạy học từ xa qua công nghệ họp truyền hình và có người hỗ trợ tại lớp học thực tế. Những người hỗ trợ này là người địa phương, không có kinh nghiệm giảng dạy nhưng có thể giúp giáo viên trong những vấn đề quản lý lớp. Mục tiêu chính của Trường học Trực tuyến là để đưa một nền giáo dục chất lượng tới những trẻ em nghèo, sống ở những khu ổ chuột thành phố hoặc ở vùng sâu vùng xa. Chương trình cũng giúp cho giáo viên có khả năng mang đến một nền giáo dục chất lượng.

Trường học Trực tuyến là một ý tưởng độc đáo mà qua đó những người thiệt thòi sống ở các khu ổ chuột và vùng sâu vùng xa có thể tiếp cận được với một nền giáo dục chất lượng không thua gì so với các thành phố lớn. Những trẻ em học ở các trường trực tuyến hào hứng với cách học này và cảm thấy việc học rất vui vẻ. Các sáng kiến như thế này giúp giáo dục mọi người về lợi ích của Internet và những điều tuyệt vời mà Internet giúp hỗ trợ thực hiện.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hermawan Kartajaya, Philip Kotler, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s