Khuôn khổ thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần I


Từ sau ngày được ký kết vào năm 1947 Hiệp định chung đã được sửa chữa bổ sung nhiều lần. Văn bản hiện nay gồm có lời nói đầu, 38 điều khoản và 9 phụ lục. 38 điều khoản được chia ra làm 4 phần. Phần thứ nhất gồm có điều 1 và điều 2, quy định về quy chế tối huệ quốc vô điều kiện, về thuế và thương mại giữa các nước thành viên, và biểu thuế. Phần thứ hai từ điều 3 đến điều 23, quy định về xóa bỏ hạn chế số lượng, trợ cấp xuất nhập khẩu và việc áp dụng quy chế không phân biệt đối xử trong thương mại cũng như những ngoại lệ của các quy chế ấy. Phần thứ 3 từ điều 24 đến điều 35, quy định việc tiếp nhận hiệp định, hiệu lực của hiệp định, việc đình chỉ hoặc xóa bỏ giảm thuế và các vấn đề gia nhập và rút khỏi hiệp định. Phần thứ tư gồm điều 36, quy định về vấn đề thương mại và phát triển của các nước đang phát triển. Các phụ lục chủ yếu là các quy định ngoại lệ về khu vực ưu đãi thuế quan đặc biệt, về liên minh thuế quan và văn bản giải thích, thuyết minh. Dưới đây giới thiệu bốn vấn đề.

I/ Quy chế tối huệ quốc và biểu thuế

Phần thứ nhất có hai điều, điều 1 là quy chế chung về tối huệ quốc, điều 2 là biểu thuế.

Điều 1 quy định nội dung cụ thể của quy chế tối huệ quốc, đó là “những lợi ích, ưu đãi, đặc quyền, miễn giảm về các mặt thuế quan và phụ phí đối với xuất khẩu hay nhập khẩu, có liên quan với xuất khẩu hoặc nhập khẩu và đối chuyển khoản thu chi xuất nhập khẩu hàng hóa, phương pháp thu thuế và chi phí nói trên, thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu và các việc ghi tại khoản 2 và khoản 4 trong điều 3 của hiệp định này, mà nước ký hiệp định dành cho sản phẩm nhập từ nước khác hoặc xuất sang nước khác, phải được áp dụng vô điều kiện không chậm trễ đối với những sản phẩm cùng loại nhập từ các nước thành viên khác hoặc xuất sang các nước thành viên khác”. Đây là điều khoản quy định về quy chế tối huệ quốc nhiều bên, vô điều kiện. Nó là hòn đá tảng của toàn bộ Hiệp định chung.

Các khoản khác trong điều này quy định những ngoại lệ của quy chế chung về tối huệ quốc. Đó là:

1/ Chế độ ưu đãi giữa Liên hiệp Anh và các lãnh thổ phụ thuộc của họ (phụ lục 1); 2) Chế độ ưu đãi giữa Liên hiệp Pháp và các lãnh thổ phụ thuộc của họ (phụ lục 2); 3) Chế độ ưu đãi trong Liên minh thuế quan Bỉ, Luxembourg và Hà Lan (phụ lục 3); 4) Chế độ ưu đãi thuế quan giữa lãnh thổ Mỹ với các lãnh thổ phụ thuộc của họ và với nước Cộng hòa Philippines (phụ lục 4); 5) Chế độ ưu đãi giữa Chile và các nước láng giềng (phụ lục 5); 6) Chế độ ưu đãi giữa Liban, Syria và các nước láng giềng (phụ lục 6).

Điều 2 là biểu thuế, trong đó quy định: “Đãi ngộ của nước thành viên này dành cho thương mại của nước thành viên khác không được ít hơn đãi ngộ mà hiệp định này dành cho nước thành viên ấy được quy định trong biểu thuế”. Nếu sản phẩm của nước thành viên này có danh mục trong phần thứ nhất tại biểu thuế của nước thành viên khác nhập khẩu vào lãnh thổ có áp dụng biểu thuế này thì phải căn cứ vào quy định, điều kiện ghi trong biểu thuế để cho chúng được miễn đánh thuế cao hơn thuế suất ghi trong biểu thuế và miễn thu mọi khoản thuế khác về nhập khẩu hoặc có liên quan đến nhập khẩu.

Nếu sản phẩm tại lãnh thổ nước thành viên này có danh mục tại phần thứ hai trong biểu thuế của nước thành viên khác, khi nhập khẩu vào lãnh thổ có áp dụng biểu thuế ấy mà được hưởng ưu đãi theo điều 1 của hiệp định này, thì được miễn đánh thuế cao hơn mức thuế ghi trong biểu thuế đã miễn thu mọi khoản thuế khác về nhập khẩu hoặc có liên quan đến nhập khẩu.

Song, điều đó không ngăn cản nước thành viên thu các khoản thuế sau đối với mọi sản phẩm nhập khẩu: 1) Phụ phí giống như thuế nội địa đánh vào sản phẩm tương tự ở trong nước hoặc đối với những vật phẩm được chế tạo hoặc sản xuất ra bằng sản phẩm nhập khẩu ấy, theo quy định ở khoản 2 điều 3; 2) Thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp; 3) Chi phí đã quy định hoặc chi phí khác tương đương với giá thành dịch vụ.

Các nước ký hiệp định không được thay đổi giá tính thuế đã được thẩm định hoặc phương pháp quy đổi tiền để gây tổn hại giá trị giảm thuế ghi trong biểu thuế.

Nếu về hình thức hoặc trong thực tế, nước thành viên nào lập ra, duy trì hoặc cho phép độc quyền nhập khẩu loại hàng hóa nào đó có danh mục trong biểu thuế của hiệp định này, thì mức độ bảo hộ bình quân của sự độc quyền đó, ngoại trừ có quy định trong biểu thuế hoặc có thỏa thuận khác ra, không được vượt quá mức bảo hộ ghi trong biểu thuế. Nhưng không hạn chế các nước thành viên dựa vào các quy định khác trong hiệp định này để hỗ trợ cho người sản xuất nước mình dưới bất kỳ hình thức nào khác.

Nếu do quyết định của tòa án hoặc của các nhà đương cục khác của nước mình mà theo luật thuế của nước mình có loại sản phẩm nào đó không thuộc diện được đãi ngộ theo biểu thuế, thì hai nước đương sự kể cả nước thành viên khác có liên quan về quyền lợi, cần hiệp thương ngay để thỏa thuận về biện pháp đền bù.

Nếu nước ký kết Hiệp định chung là thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì thuế tính theo số lượng và phụ phí liệt kê trong biểu thuế của họ và mức chênh lệch về ưu đãi thuế tính theo số lượng và phụ phí mà họ thi hành được thể hiện bằng đồng tiền nước ấy tính theo giá mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế chấp nhận hoặc tạm thời chấp nhận từ ngày ký kết hiệp định này. Nếu giá này thấp hơn 20% so với quy định trong hiệp định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì có thể điều chỉnh lại, nhưng phải được tất cả các nước ký kết hiệp định đồng ý, không gây tổn thất giá trị liệt kê trong biểu thuế có liên quan và trong các phần khác; bởi vậy việc điều chỉnh này phải có mọi yếu tố cần thiết và cấp bách. Những nước không phải là thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì sau khi trở thành thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế hoặc sau khi ký kết hiệp định chế độ hối đoái đặc biệt theo điều 15 tại hiệp định này, phải thực hiện quy định nói trên.

II/ Nội dung cụ thể của luật thực thể

Nội dung phần thứ hai của Hiệp định chung tương đối cụ thể.

Điều 1 nói về chế độ ưu đãi chung về thuế nội địa và các quy định nội địa. Điều này quy định: “Các pháp lệnh, điều lệ, quy định về thuế nội địa và phụ phí nội địa khác có ảnh hưởng tới việc tiêu thụ, vận tải, phân phối hoặc sử dụng sản phẩm ở trong nước, những điều lệ hạn chế số lượng trong nước quy định việc lắp ráp, gia công hoặc sử dụng sản phẩm phải phù hợp với yêu cầu cụ thể về số lượng hoặc tỷ lệ, khi áp dụng đối với sản phẩm nhập khẩu hoặc sản phẩm trong nước thì không được nhằm bảo hộ sản xuất trong nước”.

Khi sản phẩm của nước này nhập khẩu vào nước khác thì không được đánh thuế trực tiếp hoặc thuế gián thu và các phụ phí khác cao hơn sản phẩm cùng loại trong nước mình. Đồng thời, các nước ký kết hiệp định không được áp dụng các biện pháp trái với nguyên tắc trên để thực thi thuế nội địa hoặc các phụ phí nội địa khác.

Khi sản phẩm của nước này nhập khẩu vào nước khác thì những đãi ngộ mà chúng được hưởng theo các pháp lệnh điều lệ và quy định tiêu thụ, vận tải, phân phối hoặc sử dụng sản phẩm trong nước cùng loại. Nhưng không ngăn cản thu chênh lệch về cước phí vận tải trong nước, nếu việc thu chênh lệch đó chỉ nhằm sử dụng một cách kinh tế các công cụ vận tải chứ không phải vì chúng là sản phẩm của nước ngoài.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s