Báo cáo công tác Chính phủ Trung Quốc năm 2019 – Phần V


Giảm rõ rệt gánh nặng đóng phí bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp. Hạ tỷ lệ đóng phí bảo hiểm dưỡng lão cơ bản cho công nhân viên chức ở thành thị thuộc khối doanh nghiệp, các địa phương có thể giảm xuống còn 16%. Ổn định cách thức thu và đóng phí hiện hành, các nơi không được áp dụng biện pháp làm gia tăng gánh nặng đóng phí thực tế của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong quá trình cải cách thể chế trưng thu, không đượoc tự thu phí nợ đọng trước đây. Tiếp tục chấp hành chính sách hạ thấp tỷ lệ đóng phí bảo hiểm thất nghiệp và tai nạn lao động mang tính giai đoạn. Năm nay nhất định phải giảm thực sự gánh nặng đóng phí bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Xúc tiến đẩy nhanh tính toán tổng thể cải cách bảo hiểm dưỡng lão cấp tỉnh, tiếp tục nâng cao tỷ lệ điều tiết trung ương của Quỹ bảo hiểm dưỡng lão cơ bản cho công nhân viên chức của các doanh nghiệp, chuyển một phần vốn nhà nước vào quỹ bảo hiểm xã hội. Chúng ta vừa cần phải giảm gánh nặng đóng phí của doanh nghiệp, chuyển một phần vốn nhà nước vào quỹ bảo hiểm xã hội. Chúng ta vừa cần phải giảm gánh nặng đóng phí của doanh nghiệp, vừa cần bảo đảm cơ chế đãi ngộ bảo hiểm xã hội của công nhân viên chức không thay đổi, vừa tăng lương hưu một cách hợp lý cũng như cung cấp đầy đủ đúng hạn, để quỹ bảo hiểm xã hội có thể duy trì bền vững, doanh nghiệp và công nhân viên chức đều được hưởng lợi.

Bảo đảm thực hiện đến nơi đến chốn việc giảm thuế và lệ phí. Giảm thuế và lệ phí để giải quyết các “chỗ đau” và khó khăn của các chủ thể thị trường hiện nay là chính sách vừa công bằng vừa hiệu quả. Cả năm đã giảm gần 2000 tỷ NDT thuế và gánh nặng đóng phí bảo hiểm xã hội cho doanh nghiệp. Điều này sẽ gây ra áp lực rất lớn cho ngân sách các cấp. Để hỗ trợ giảm gánh nặng cho doanh nghiệp, chính quyền các cấp cần “thắt lưng buộc bụng”, tìm cách huy động vốn. Ngân sách Trung ương cần tăng thu giảm chi, tăng mức nộp lợi nhuận của các cơ quan tài chính – ngân hàng nhà nước và doanh nghiệp ở Trung ương, giảm trên 5% chi tiêu thường xuyên, giảm thêm khoảng 3% kinh phí “tam công” (gồm kinh phí đi công tác nước ngoài, mua xe và vận hành xe, chiêu đãi), thu hồi các khoản vốn tồn đọng lâu dài. Các chính quyền địa phương cũng cần chủ động khai thác tiềm năng, dốc sức tối ưu hóa cơ cấu chi tiêu, làm hồi sinh các nguồn vốn và tài sản thông qua nhiều kênh. Chúng ta cần làm cho các chủ thể thị trường đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ có cảm giác được giảm thuế và lệ phí rõ rệt, kiên quyết thực hiện cam kết của mình đối với doanh nghiệp và xã hội, dù nhiều khó khăn đến mấy cũng nhất định phải hoàn thành và thực hiện tốt việc này.

Tập trung tháo gỡ vấn đề huy động vốn khó và vốn đắt của doanh nghiệp. Cải cách và hoàn thiện cơ chế cấp tín dụng, vận dụng một cách hợp lý các biện pháp về số lượng và giá cá như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất… hướng dẫn các cơ cấu tài chính – ngân hàng mở rộng quy mô cho vay và giảm chi phí cho vay, hỗ trợ nền kinh tế thực  một cách chính xác và hiệu quả, không để nguồn vốn “chạy không tải” hoặc tách thực sang ảo. Gia tăng cường độ hạ tỷ lệ dự trữ bắt buốc có định hướng cho các ngân hàng vừa và nhỏ, toàn bộ số vốn được giải ngân đều dùng vào cấp tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Ủng hộ các ngân hàng thương mại lớn bổ sung nguồn vốn thông qua nhiều kênh, tăng cường năng lực cho vay tín dụng, khuyến khích tăng thêm vốn vay dài hạn và vốn tín dụng cho ngành sản xuất. Năm nay, vốn vay cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ của các ngân hàng thương mại lớn thuộc sở hữu nhà nước cần tăng hơn 30%. Xóa bỏ và quy phạm hóa việc thu phí của ngân hàng và dịch vụ môi giới. Hoàn thiện cơ chế đánh giá trong nội bộ của các tổ chức tài chính – ngân hàng, khuyến khích và tăng cường các dịch vụ tài chính ưu đãi phổ quát, cải thiện hiệu quả tình trạng căng thẳng trong huy động vốn của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, giá thành huy động nhìn chung cần phải giảm rõ rệt.

Phát huy hiệu quả vai trò của trái phiếu chính quyền địa phương. Năm nay dự tính bố trí phát hành 2150 tỷ NDT trái phiếu đặc biệt của chính quyền địa phương, tăng 800 tỷ NDT so với năm trước, hỗ trợ vốn cho việc xây dựng các dự án trọng điểm, tạo điều kiện để phòng ngừa và giải quyết vấn đề rủi ro nợ công của chính quyền địa phương một cách tốt hơn. Mở rộng hợp lý phạm vi sử dụng trái phiếu đặc biệt. Tiếp tục phát hành trái phiếu chuyển đổi của chính quyền địa phương với số lượng nhất định, giảm nhẹ gánh nặng lãi suất của địa phương. Khuyến khích áp dụng hình thức thị trường hóa, giải quyết ổn thỏa vấn đề nợ đáo hạn của các nền tảng huy động vốn, không triển khai các dự án “nửa vời”.

Áp dụng cùng lúc nhiều biện pháp để ổn định và mở rộng việc làm. Làm tốt công tác tạo việc làm cho các nhóm trọng điểm như sinh viên tốt nghiệp đại học, quân nhân xuất ngũ, công nhân nông nghiệp… tăng cường giúp đỡ và hỗ trợ nhóm người gặp khó khăn trong tìm việc làm ở thành thị. Giảm, miễn thuế và lệ phí ở mức nhất định trong 3 năm đối với các doanh nghiệp tuyển dụng người nghèo ở nông thôn và những người đăng ký thất nghiệp nửa năm trở lên ở thành thị. Tăng cường hỗ trợ cho các việc làm linh hoạt và hình thức việc làm mới. Kiên quyết ngăn chặn và uốn nắn hành vi phân biệt đối xử giới tính và danh tính trong quá trình tìm việc làm. Nâng cao kỹ năng nghề, chi 100 tỷ NDT từ số dư của quỹ bảo hiểm thất nghiệp dành cho việc nâng cấp và tập huấn kỹ năng và thay đổi cương vị, việc làm của hơn 15 triệu lượt công nhân viên chức. Đẩy nhanh sự phát triển của giáo dục nghề nghiệp hiện đại, vừa có lợi cho việc làm giảm bớt áp lực hiện nay, vừa cũng là biện pháp chiến lược để giải quyết vấn đề thiếu hụt nhân tài có tay nghề cao. Cải cách và hoàn thiện phương pháp thi tuyển của cá trường cao đẳng nghề, khuyến khích càng nhiều học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học và quân nhân xuất ngũ, công nhân viên chức mất việc và lao động nông dân đăng ký thi tuyển, năm nay mở rộng tuyển thêm 1 triệu người. Mở rộng diện được nhận học bổng của các trường cao đẳng nghề, nâng cao tiêu chuẩn trợ cấp, đẩy nhanh việc công nhận và kết nối bằng cấp và chứng chỉ kỹ năng nghề giữa các trường. Cải cách thể chế giảng dạy của các trường cao đẳng nghề, nâng cao chất lượng đào tạo. Ngân sách Trung ương đã tăng đầu tư đáng kể vào các trường cao đẳng nghề, và ngân sách địa phương cũng cần tăng cường ủng hộ các trường này. Thành lập quỹ học bổng quốc gia cho giáo dục hướng nghiệp trung cấp. Ủng hộ doanh nghiệp và các lực lượng trong xã hội làm giáo dục hướng nghiệp. Chúng ta cần đẩy nhanh đào tạo những người có tay nghề và kỹ năng cần thiết cho sự phát triển của đất nước thông qua cải cách và phát triển lớn của ngành giáo dục hướng nghiệp hiện đại, để càng nhiều thanh niên có thể nhận ra giá trị của cuộc sống nhờ vào kỹ năng của họ, tạo ra nhiều nhân tài giỏi trong các ngành các nghề.

2/ Kích thích sức sống của các chủ thể thị trường, tập trung cải thiện môi trường kinh doanh. Nước ta có hàng trăm triệu chủ thể thị trường, và con số này vẫn đang không ngừng gia tăng. Giữ vững và nâng cao sự năng động của các chủ thể thị trường là mấu chốt để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và ổn định. Cần đi sâu cải cách cắt giảm thủ tục phê duyệt hành chính và phân quyền, kết hợp giữa phân quyền và quản lý, ưu hóa dịch vụ, giảm chi phí giao dịch mang tính cơ chế, tạo dựng tốt môi trường mềm để phục vụ phát triển.

Chấn hưng ngành nghề thông qua cắt giảm thủ tục phê duyệt, cải thiện dịch vụ và tạo thuận lợi cho đầu tư. Phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường là hình thức hiệu quả nhất. Cần tiếp tục cắt giảm danh sách hạn chế và không khuyến khích thâm nhập thị trường, thúc đẩy phổ biến thực hiện “không cấm là cho phép”. Chính phủ cần kiên quyết giao những vấn đề không thuộc chức năng của mình cho thị trường, giảm tối đa việc phân bổ trực tiếp các nguồn lực, các hạng mục phê duyệt cần giảm phải dốc sức giảm, đơn giản quy trình và các khâu đối với những hạng mục phê duyệt, để các doanh nghiệp dành nhiều thời gian hoạt động trên thị trường. Năm nay cần phải thực hiện cải cách “chia tách giấy chứng nhận đăng ý kinh doanh và giấy phép kinh doanh” đối với tất cả các hạng mục liên quan đến giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp, để các doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh dễ dàng hơn và sớm đi vào hoạt động, kiên quyết khắc phục hiện tượng “cho phép thâm nhập lại không cho phép kinh doanh”, nhân rộng cải cách cơ chế phê duyệt dự án xây dựng công trình trên toàn quốc, rút ngắn lượng thời gian phê duyệt toàn bộ quy trình. Thúc đẩy phê duyệt và dịch vụ trực tuyến, đẩy nhanh thực hiện làm thủ tục một cửa, cũng có thể làm thủ tục ở nơi khác, khiến càng nhiều hạng mục có thể làm thủ tục mà không cần gặp mặt, cần xử lý tại hiện trường, thì “xử lý một cửa và giới hạn thời gian”, “tối đa một lần”. Tiếp tục triển khai hoạt động cải cách “giảm cấp phép, tạo thuận lợi cho người dân”, không được gây phiền phức cho doanh nghiệp và quần chúng bằng các loại giấy tờ, thủ tục rườm rà. Xây dựng cơ chế đánh giá dịch vụ của chính quyền, thành tích và hiệu quả dịch vụ cần do doanh nghiệp và quần chúng nhân dân đánh giá. Phục vụ tốt là bổn phận của các cơ quan chính phủ, ngược lại là xao nhãng trách nhiệm.

(còn tiếp) 

Nguồn: Mạng Tân Hoa (TQ) – 05/03/2019

TLTKĐB – 07, 08 & 09/03/2019

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s