Chuyển đổi số nền kinh tế – Phần cuối


Như đã đề cập trước đây, mắt xích then chốt trong các quá trình chuyển đổi số hóa nằm trong nội bộ của doanh nghiệp và phải đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Tin học hóa, tức là cung cấp các phương tiện để quản lý số hóa. Tất cả các thiết bị hiện đại ban đầu được thiết kế để quản lý số hóa, còn các thiết bị đã được sử dụng trong một thời gian dài, nên được nâng cấp cho phù hợp.

+ Tương tác mạng, nghĩa là, các công nghệ biệt lập phải được tích hợp trong một môi trường chung, đáp ứng yêu cầu kinh doanh của công ty. Thông thường, để đạt được đích này, một giao thức kết nối Internet (IP) được sử dụng từ đó, hình thành Internet kết nối vạn vật (IoT). Tương tác mạng cho phép tích hợp các quy trình thiết kế và sản xuất có sự trợ giúp của máy tính CAD/CAM (Computer-aided Design/Computer-aided Manufacturing) với các công cụ quản lý các quy trình công nghệ Manufacturing Execution System (MES), tổ chức phục vụ từ xa. Nếu thiết bị được nâng cấp không phải là mới, nhưng vẫn còn khả năng hoạt động, thì nó cũng có thể được đưa vào tương tác.

+ Khả năng hiển thị, nghĩa là tạo ra ảnh số (digital image) hoặc một đối tác ảo của doanh nghiệp.

+ Tính minh bạch, nghĩa là, mối quan hệ của ảnh số với các hệ thống phân tích, được gọi là các hệ thống xử lý dữ liệu lớn, cao hơn.

+ Khả năng dự báo, theo đó, có thể sử dụng các công nghệ phân tích dự báo thích ứng với quá trình sản xuất.

+ Khả năng thích nghi, nghĩa là, khả năng dự báo mở ra khả năng tự động hóa các chức năng liên quan đến việc thích nghi của doanh nghiệp trước các điều kiện bên ngoài thay đổi.

Ngoài các yếu tố nêu trên, hiệu quả của việc chuyển đổi sang nền kinh tế số còn chịu ảnh hưởng bởi hành vi và tâm lý của nhân viên doanh nghiệp, những nhân tố không kém phần quan trọng như công nghệ. Một doanh nghiệp số bao gồm hai thành tố chủ yếu – tính sẵn sàng của nhân viên với những thay đổi và tương tác xã hội tự do ở tất cả các cấp. Tính sẵn sàng với những thay đổi được hiểu: cởi mở với đổi mới, tính chuyên nghiệp không ngừng được cải thiện, ủng hộ những thay đổi. Tương tác xã hội tự do được đảm bảo bởi phong cách lãnh đạo dân chủ, khả năng bày tỏ ý kiến cởi mở, tham gia tích cực vào quá trình phát triển.

Điểm mấu chốt trong công nghiệp 4.0 là thiết lập cơ sở hạ tầng trên nền tảng của ba loại liên kết: (1) liên kết ngang của mô hình cấu trúc doanh nghiệp (mạng giá trị – value networks); (2) liên kết số các quy trình sản xuất (digital integration of engineering) trên toàn bộ mô hình cấu trúc doanh nghiệp, và (3) liên kết dọc chuỗi sản xuất nội bộ của doanh nghiệp (networked manufacturing). Liên kết ba cấp độ cho phép chuyển toàn bộ nền kinh tế quốc gia thành một hệ thống vật lý không gian mạng duy nhất, được tích hợp bởi hành chính công. Hệ thống vật lý không gian mạng (Cyber-physical System – CPS) là các hệ thống bao gồm các đối tượng tự nhiên khác nhau, hệ thống con nhân tạo và các bộ điều khiển, cho phép đại diện cấu thành nên một chỉnh thể thống nhất. Trong CPS, đảm bảo mối liên kết và sự phối hợp chặt chẽ giữa các nguồn điện toán và tài nguyên vật lý. Máy tính theo dõi và quản lý các quá trình vật lý cùng với việc sử dụng vòng lặp thông tin phản hồi (feedback loops), nơi những gì xảy ra trong các hệ thống vật lý ảnh hưởng đến tính toán và ngược lại. Sự phức tạp của loại nhiệm vụ này đưa đến ý tưởng thành lập một cấp độ tự động hóa mới, nơi các máy tính được tích hợp hoặc được gắn vào các hệ thống hay thiết bị vật lý. Đó là sự kết hợp hài hòa của hai loại mô hình. Một mặt, đây là những mô hình kỹ thuật truyền thống (cơ khí, xây dựng, điện, sinh học, hóa học, kinh tế và những ngành khác), và mặt khác, các mô hình máy tính.

Nhằm mục đích đưa nền kinh tế Nga vào cuộc cạnh tranh của không gian kinh tế thế giới, Chính phủ Liên bang Nga đã phê duyệt Chương trình “Nền kinh tế sô Liên bang Nga” (Nghị quyết số 1632-p ngày 28 tháng 7 năm 2017). Chương trình được thông qua dựa trên Chiến lược hình thành một cộng đồng thông tin của Liên bang Nga giai đoạn 2017 – 2030 và xuất phát từ thực tế là khoa học kinh tế số đòi hỏi ứng dụng rộng rãi công nghệ số trong hoạt động kinh tế. Việc chuyển đổi số của các quy trình hiện có trong chương trình được xác định theo ba cấp độ mà sự tương tác của chúng, trên thực tế, sẽ ảnh hưởng đến con người và xã hội trên phạm vi toàn cầu. Ba cấp độ được thể hiện theo các phương hướng như sau:

+ Phát triển công nghệ của các chủ thể thị trường và các ngành của nền kinh tế (lĩnh vực hoạt động), nơi thực hiện quá trình liên kết ngang giữa các nhà cung cấp và người tiêu dùng hàng hóa, sản phẩm dịch vụ;

+ Phát triển công nghệ và nền tảng công nghệ;

+ Hình thành môi trường thể chế mà nhiệm vụ của nó là tạo điều kiện cho sự tương tác thành công của các chủ thể thị trường. Môi trường thể chế bao gồm các thành phần sau đây: các văn bản quy phạm pháp luật, các tổ chức hỗ trợ tài chính, cơ sở hạ tầng thông tin, phát triển nguồn nhân lực,…

Trên thực tế, Chương trình “Nền kinh tế số Liên bang Nga” trong giai đoạn hiện nay tập trung vào hai định hướng cơ bản. Định hướng đầu tiên sẽ hình thành các tổ chức và doanh nghiệp, đóng vai trò là mắt xích chính của hệ thống số. Định hướng thứ hai dự định thực hiện thông qua việc tạo lập cấu phần cơ sở hạ tầng, giúp đảm bảo quá trình chuyển đổi nền kinh tế Nga một cách liên tục.

Việc thực hiện Dự án “Nền Kinh tế số Liên bang Nga” được đánh giá là hiệu quả nếu tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đạt được vào năm 2024 được thực hiện ở mức hoàn thành và vượt mức kế hoạch, cụ thể:

+ Ở Nga, sẽ có ít nhất 10 doanh nghiệp hàng đầu của nhà nước. Đây là nhữung công ty công nghệ cao, phát triển các công nghệ tích hợp liên ngành và quản lý nền tảng số;

+ Trong hệ thống kinh tế, sẽ có ít nhất 500 công ty không lớn tầm trung, có quan hệ đến lĩnh vực tạo lập công nghệ số;

+ Số lượng sinh viên tốt nghiệp theo các xu hướng công nghệ thông tin và viễn thông phải có ít nhất 120 nghìn người mỗi năm và số lượng sinh viên tốt nghiệp có chuyên ngành công nghệ thông tin tính bình quân không dưới 800 nghìn người mỗi năm;

+ 40% dân cư phải có kiến thức kỹ thuật số;

+ Số lượng kế hoạch thực hiện trong lĩnh vực kinh tế số với ngân sách 100 triệu rupe không dưới 30;

+ Số lượng các tổ chức trong nước tham gia thực hiện các dự án lớn trong lĩnh vực kinh tế số với giá trị dự án 3 triệu USD trong các lĩnh vực hợp tác công nghệ quốc tế ưu tiên – không ít hơn 10;

+ Về phát triển năng lực nghiên cứu và nền tảng khoa học kỹ thuật, số lượng kế hoạch thực hiện không ít hơn 30, số lượng các tổ chức trong nước tham gia thực hiện các kế hoạch lớn trong các lĩnh vực ưu tiên về hợp tác khoa học và công nghệ quốc tế, – 10;

+ 97% người dân có quyền truy cập Internet băng thông rộng với tốc độ 100 Mbps;

+ 5G sẽ hoạt động ở tất cả các khu dân cư, nơi có hơn 1 triệu người sinh sống;

+ Tỷ lệ lưu lượng truy cập mạng nội bộ của Runet được chuyển qua các máy chủ nước ngoài ở mức 5%.

Ngoài ra, một trong những mục tiêu then chốt của dự án là thành lập và đưa vào vận hành không ít hơn 10 công ty công nghệ cao, làm việc trong một thị trường rộng lớn và hình thành mạng lưới các doanh nghiệp vệ tinh, bao gồm những doanh nghiệp khởi nghiệp và các hiệp hội nghiên cứu, đảm bảo sự hình thành một nền kinh tế số trong tương lai.

Với mục đích liên kết số vào không gian toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên các công nghệ then chốt của Công nghiệp 4.0, nền kinh tế Nga cần hình thành một khung lý thuyết quốc gia về kinh tế số. Quan điểm chuyển đổi số được thể hiện bằng các định hướng hình thành một mô hình toàn quốc “Nền kinh tế số Liên bang Nga”;

+ Thừa nhận và xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh các công nghệ blockchain, tiền điện tử…;

+ Khuyến khích hình thành các “công ty nền tảng” đẳng cấp thế giới (thí điểm – trên cơ sở Sberbank);

+ Phát triển sáng kiến công nghệ quốc gia – mở đường ứng dụng các công nghệ mới;

+ Xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia mở dựa trên các cấu trúc hiện hành nhằm tăng năng suất hoạt động quản lý nhà nước;

+ Chuyển đổi các khái niệm dịch vụ quốc gia và thành phố sang các nền tảng tiến bộ nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ và triển khai cá nhân hóa cho mọi công dân và chủ thể doanh nghiệp;

+ Các quy trình công nghệ mới đã được ứng dụng.

+ Phát triển công nghệ công nghiệp mới của Công nghiệp 4.0 – liên kết sâu “các hệ thống vật lý không gian mạng ảo” (CPS) vào các quy trình sản xuất: công nghệ 3D (in ấn), công nghệ gen, Internet kết nối vạn vật, tạo ra bộ xử lý lượng tử. Đây chỉ là một phần của công nghệ mới, làm thay đổi căn bản quá trình sản xuất trong thời gian ngắn nhất có thể.

Quá trình số hóa ngày nay là một làn sóng kinh tế – kỹ thuật độc đáo, lan truyền qua toàn bộ các quá trình từ thành lập, kiểm soát sản xuất và quảng bá sản phẩm tới người tiêu dùng và dịch vụ hậu mãi. Nga giữ vị trí không phải là kém trong nhóm các quốc gia “tín đồ” công nghệ Công nghiệp 4.0. Rõ ràng đây là thời điểm có thể vận dụng kinh nghiệm về việc xây dựng mô hình kinh tế số từ các quốc gia đã đạt được những tiến bộ trong các vấn đề số hóa, và hiện tại, đang có nền tảng khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới.

Nguồn: Tạp chí ngân hàng – Số 14 – 7/2019.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s