Những thách thức an ninh tại Biển Đông – Phần II


Mỹ xây dựng chiến lược của họ đối lập với chiến lược của Trung Quốc nhằm kiểm soát không gian biển này. Ngay từ năm 2010, Bộ Quốc phòng Mỹ đã chỉ ra sự cần thiết trang bị cho quân đội các phương tiện để chống lại những khả năng từ “Cấm tiếp cận”, như đã được nêu trong báo cáo quốc phòng 4 năm một lần của Mỹ. Đặc biệt, khái niệm này đã được ông Jan Van Tol cựu chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương, cựu thành viên của Trung tâm đánh giá chiến lược và ngân sách và Trung tâm nghiên cứu của Bộ Quốc phòng Mỹ, mô tả và nêu chi tiết. Trong một bài viết của mình, Van Tol chỉ rõ mục đích của khái niệm đó là vô hiệu hóa các khả năng thù địch, ngăn cấm việc đi vào vùng biển và vùng trời trên đó.

Sự hiện diện truyền thống của Mỹ trong khu vực đi kèm với một tác nhân truyền thống khác cũng muốn gia tăng ảnh hưởng tại đây: đó là Nhật Bản. Thật vậy, nội các Thủ tướng Shinzo Abe đã coi trọng các vấn đề quốc phòng ngang với các vấn đề về kinh tế. Bước chuyển từ một chính sách thụ động sang một chính sách cam kết hơn và tập trung vào vấn đề an ninh đã có tác động trực tiếp tới Biển Đông. Tokyo ngày càng hiện diện hơn và tiến hành một chiến dịch hợp tác phòng thủ với các nước thành viên ASEAN kể từ khi ông được bầu làm thủ tướng. Theo đó, Nhật Bản dựa vào 3 tác nhân lớn trong khu vực, là Việt Nam, Indonesia và Philippines thông qua việc cugn cấp cho họ các trang thiết bị bảo vệ bờ biển hoặc trực tiếp là các tàu tuần tra hay các máy bay hải giám.

Bên cạnh 3 tác nhân lớn này, bản thân các quốc gia ven Biển Đông cũng tham gia vào sự leo thang căng thẳng tại đây, đặc biệt vì họ lo ngại rằng nước láng giềng Trung Quốc thao túng trong lãnh thổ đương nhiên thuộc về họ. Hầu hết các nước lao vào hiện đại hóa hải quân và không quân nhằm tăng cường khả năng kiểm soát không gian biển của mình. Chẳng hạn, Việt Nam vừa trang bị một hạm đội tàu ngầm, mua từ Nga.

Nhận thức về chiến tranh

Một cuộc xung đột công khai cũng có thể nổ ra do tinh thần chiến binh của một số dân tộc. Đó là trường hợp của Việt Nam và Indonesia, người dân những nước này có ý chí chống Trung Quốc mạnh mẽ. Vả lại, các cuộc bạo động tại Việt Nam năm 2014 đã kết thúc bi thảm với cái chết của nhiều người nước ngoài. Cũng vậy, tại Philippines, dân chúng phần lớn gắn bó với Washington do những nguyên nhân thuộc về lịch sử. Ngoài ra, theo một cuộc điều tra năm 2004 của Rémi Scoccimarro, 64% người Trung Quốc được hỏi khẳng định họ không thích Nhật Bản. Ngược lại, 60% người Nhật Bản không thích Trung Quốc. Vì vậy nhận định về một cuộc xung đột hoặc những căng thẳng giữa các dân tộc khác nhau bên bờ Biển Đông là có thực và bám rễ vào ý thức của họ.

Mặc dù có sự ngờ vực lẫn nhau, đặc biệt đối với gã khổng lồ Trung Quốc, các nước thành viên ASEAN nhìn chung thực hiện một chính sách mềm dẻo hơn so với vẻ bên ngoài. Chính phủ của các nước ASEAN mắc một chứng tâm thần phân liệt nào đó trước tình hình phức tạp qua phân tích dưới đây. Vụ Benham Rise giữa Philippines và Trung Quốc cho thấy rõ quan điểm này. Thực vậy, tháng 4/2017, Trung Quốc đã đưa một tàu thăm dò vào vùng biển của Philippines, trên thềm lục địa Benham Rise. Manila bị chia rẽ giữa một tổng thống tỏ ra mềm mỏng với Bắc Kinh và người dân nước này phần lớn gắn bó với Washington và nghi ngờ các hành động của Trung Quốc gần đảo quốc này. Đây cũng là trường hợp của Jakarta, vốn dao động giữa một chính sách mềm dẻo đối với Bắc Kinh và một đường lối cứng rắn hơn dựa trên sự hiện đại hóa hải quân và không quân của nước này. Chính sách truyền thống này được biết đến hơn tại Indonesia dưới cái tên bebas-aktif. Như vậy, tất cả các quốc gia trong khu vực không có bất cứ lợi ích gì trong việc phát động một cuộc xung đột công khai, nhưng luôn thận trọng trước một Trung Quốc ngày càng hiện diện hơn trong khu vực.

Hơn nữa, để đối phó với chiến lược của Trung Quốc duy trì một ngưỡng căng thẳng để dấn thêm các quân cờ của mình. Lâm Trung Bân, Giáo sư tại Đại học Quốc phòng Đài Loan, đã vạch trần thủ đoạn của Đặng Tiểu Bình với khái niệm “Đấu tranh mà không tàn phá/hủy diệt”, nhằm dồn đối thủ vào cuối chiến hào tới giới hạn của sự chịu đựng để ngăn chặn ngay xung đột trong khi chờ đợi một cơ hội khác. Chiến lược này ra đời năm 1982, sau khi nước Mỹ dưới thời chính phủ Reagan, đã bán vũ khí cho Đài Loan, và Trung Quốc của Đặng Tiểu BÌnh phản đối mạnh mẽ việc này. Nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó đã xác định một đường lối ứng xử: “Để đấu tranh với Mỹ, chúng ta cần phải không sợ hãi. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhấn mạnh một chiến lược đó là kiên trì các nguyên tắc của chúng ta đồng thời chú ý không để cắt đứt quan hệ với đối phương”.

Tập Cận Bình có chiến lược khác, đó là tập hợp các khả năng mới của Trung Quốc về kinh tế, quân sự và ngoại giao. Vì vậy, chính phủ mới hiện nay thừa nhận quy chế mới của Trung Quốc trong khu vực như là tác nhân chủ chốt cùng với Mỹ. Chiến lược này, được nhận thấy thông qua khái niệm “các quan hệ mới giữa các siêu cường”, đề xuất thêm một hệ thống 2 cực tại châu Á giữa Bắc Kinh và Washington. Quan hệ mới này giữa các siêu cường được thiết lập trên nguyên tắc: “Hợp tác, cạnh tranh nhưng không xung đột”.

Hạ nhiệt những căng thẳng: Cuộc chiến của những con tàu sơn trắng và không gian đối thoại

Tuy nhiên, thực tế của một cuộc xung đột tại Biển Đông cần phải được hạ nhiệt. Thật vậy, toàn bộ các nước sử dụng lực lượng bảo vệ bờ biển khi căng thẳng leo thang hoặc để chặn các tàu cá nước ngoài. Các tác nhân khác nhau, bao gồm cả Trung Quốc, vẫn thận trọng đối với khả năng xung đột và việc triển khai các tàu hải giám có lẽ không thể được cho là một hành động chiến tranh. Khi xảy ra những sự cố, đụng độ hoặc để kiểm soát trên biển, các nước có xu hướng cử các con tàu sơn trắng, tức là các tàu hải giám hơn là các tàu chiến Vả lại, phần lớn các lực lượng bảo vệ bờ biển thuộc các bộ khác nhau chứ không thuộc Bộ Quốc phòng. Như trường hợp của Nhật Bản, các lực lượng này trực thuộc Bộ lãnh thổ. Các quốc gia trong khu vực vẫn cực kỳ thận trọng trước khả năng xảy ra một cuộc xung đột công khai. Vì vậy, cần phải hạ nhiệt những căng thẳng lặp đi lặp lại này dù rằng chúng đang ngày càng nhiều hơn tại Biển Đông.

Chúng ta cũng cần không nên coi sự khó khăn của việc thiết lập đối thoại với Trung Quốc như là nguồn gốc của một cuộc xung đột. Quả thực, Bắc Kinh ưa thích những giải pháp song phương với các quốc gia khác hơn, nhằm duy trì khả năng gây ảnh hưởng của mình tại các diễn đàn khu vực lớn. Tuy nhiên, Trung Quốc còn lâu mới từ chối đối thoại và cho thấy quyết tâm của họ muốn làm dịu những căng thẳng với các nước láng giềng. Chẳng hạn DOC hay còn gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông, được thông qua năm 2002, mang lại khả năng giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình tại Biển Đông. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng muốn trấn an cường quốc hàng đầu thế giới là Mỹ, vốn luôn tìm cách giữ quyền bá chủ của mình trong khu vực. Bằng chứng là trong diễn văn tại Hội nghị thượng đỉnh ở Palm Spring năm 2013, ông Tập Cận Bình đã nói một cách hoa mỹ rằng Thái Bình Dương tương đối rộng chỗ cho 2 cường quốc.

Mặc dù căng thẳng gia tăng, với sự hiện đại hóa sức mạnh quân đội của mỗi nước trong khu vực và sự ngờ vực của nước này với nước kia, Biển Đông vẫn chưa phải là hiện trường của một cuộc xung đột công khai. Tuy nhiên, mức độ căng thẳng đang được duy trì bởi một Trung Quốc muốn nắm vai trò lãnh đạo khu vực và kiểm soát không gian kế cận và một nước Mỹ muốn đảm bảo tự do hàng hải trong các vùng biển ngày càng rối ren này. Vì vậy, Biển Đông và biển Hoa Đông là nơi diễn ra những căng thẳng lặp đi lặp lại.

Cuộc chiến các ranh giới trên Biển đông: Những hạn chế của luật pháp quốc tế

Ranh giới hoặc biên giới là đường phân chia 2 chủ quyền. Đây là “yếu tố quyết định quy chế hình thành điều kiện thực thi danh nghĩa lãnh thổ”. Trong luật pháp quốc tế, nó quyết định không gian chủ quyền của một quốc gia. Trung Quốc đang xét lại sự xác định này bằng sự giải thích của riêng họ về các đường ranh giới và các quyền của họ tại Biển Đông. “Biển của Trung Quốc”. Các đường lãnh hải của các quốc gia trong khu vực, cùng chia sẻ vùng biển này, bị sửa đổi đi ngược lại ý chí của họ. Để phản ứng, những quốc gia này kêu gọi áp dụng luật pháp quốc tế và tìm cách lấy lại hoặc áp đặt chủ quyền của họ. Mỹ, Nhật Bản, Liên hợp quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là trọng tài.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược (Pháp)

CVĐQT – số 4/2018

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s