Biện chứng pháp và giải thoát – Phần III


Với lý tưởng là chư Phật, các Bồ Tát phát Bồ-Đề tâm(bodhicittotpāda) để tìm cầu Vô thượng Chính đẳng Chính giác. Tánh Không (Śūnyatā) và Từ Bi (Karuņā) là hai nét đặc trưng của Bồ-Đề tâm (Bodhicitta). Tánh Không là Prajñā (trí Bát Nhã), là trực giác thuộc lý trí, và được đồng nhất với Cảnh Giới Tuyệt Đối. Từ Bi là nguyên lý tích cực của lòng trắc ẩn, đó là cách biểu hiện Tánh Không một cách cụ thể trong thế giới hiện tượng. Nếu Tánh Không mang tính siêu việt và huớgn đến Cảnh Giới Tuyệt Đối, thì lòng từ bi lại hoàn toàn nội tại và nhìn xuống thế giới hiện tượng. Tánh Không là thực tại tính trừu tượng và phổ quát của các vô quyết định tướng; nó siêu quá sự đối lập của thiện ác, thị phi, yêu ghét, đức hạnh tội lỗi; còn lòng từ bi là điều thiện, tình yêu và hành động thuần tịnh. Tánh Không là trạng thái tiềm năng, còn lòng từ bi là trạng thái hiện thực. Chư Phật và chư Bồ Tát đều sống trong hai cảnh giới: các Ngài đặt một chân trong Cảnh Giới Tuyệt Đối, còn chân kia lại đặt trong thế giới hiện tượng. Các Ngài là những bậc đạo hạnh, và là suối nguồn của tất cả mọi điều thiện trên thế gian. Bồ-Đề tâm (Bodhicitta) là sự kết hợp độc nhất vô nhị Lý trí và Ý Chí.

Kinh điển đại thừa tận dụng mọi ngôn từ để ca ngợi Bồ-Đề tâm, xem nó là nền tảng của mọi điều thiện, là suối nguồn của mọi tinh tấn, là nơi y chỉ của tất cả chúng sinh, và là phương thuốc chữa trị bao nỗi phiền não khổ đau cho họ, nên sự thanh tịnh của nó thì vô biên và tính thiện của nó thì vô tận. Ta không nên nghĩ rằng Bồ-Đề tâm là sự chuẩn bị cho lý tưởng xuất thế nào đó, và không phù hợp với những vấn đề của cuộc sống trần gian. Ngay cả trong cõi thế này, nó vẫn có ảnh hưởng vô cùng to lớn. Là nền tảng của lòng vị tha, Bồ-Đề tâm đã tạo nên tình đoàn kết và những quan hệ tràn đầy hạnh phúc trong xã hội loài người.

Giáo lý Phật giáo thường chia Bồ-Đề tâm thành hai giai đoạn:

1/ Giai đoạn một gọi là Bồ-Đề nguyện tâm (bodhi praņidhi citta) là giai đoạn chuẩn bị, trong đó hành giả phát tâm lập đại nguyện, xác định lý tưởng của mình là chứng đắc Phật quả.

2/ Giai đoạn hai gọi là Bồ-Đề hành tâm (bodhi prasthāna citta) là giai đoạn hành trì lục độ để hướng về mục tiêu đã định.

Lúc sơ phát tâm, Bồ Tát lập đại nguyện (mahā-praņidhāna), thuờng là trước một vị Thiện tri thức (Kalyāņa-mitra), trình bày ý nguyện và phát tâm tinh tấn dũng mãnh. Kinh điển địa thừa đưa ra mười hoặc mười hai lời nguyện. Những lời nguyện tối trọng yếu vẫn là Bồ Tát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh:

nguyện trong kiếp sau, khi tôi chức đắc Bồ-Đề, sẽ dùng vô lượng vô biên phương tiện trí tuệ (prajñoāya) để chu cấp cho tất cả các loại hữu tình được đầy đủ tài vật, không có ai bị thiếu sót một thứ gì; nguyện cho tất cả chúng sinh đều xa lìa con đường hạ liệt của hàng Thanh Văn, Duyên Giác mà xu nhập đạo giác ngộ vô thượng của đại thừa; nguyện cho những ai hành trì pháp môn của tôi sẽ không bị đọa vào các đường ác; nguyện cho những chúng sinh bị nghèo đói tật bệnh không nơi nương tựa được cứu giúp, thân tâm an lạc”…

Các lời đại nguyện lúc sơ phát tâm có ý nghĩa vô cùng trọng đại. Chúng đặt ra mục tiêu rất rõ ràng để Bồ Tát không bị lệch hướng suốt trong quá trình tu tập, không bị thoái thất sơ tâm. Bản thân các nguyện có công dụng như một lực gia tốc [accelerating force] thúc đẩy tiến trình tu hành, và loại bỏ những xu hướng khiến tâm linh thoái đọa. Hành giả trở thành cái mà họ muốn. Họ không để hoàn cảnh sai sử, mà chính họ làm chủ được hoàn cảnh. Thế ngộ tâm linh là sự phát triển từ bên trong, mang tính tự sáng tạo và tự quyết định. Không cần phải nói nhiều rằng: bản chất của đại nguyện quyết định bản chất quả vị tối hậu, giống như hạt giống quyết định bản chất của cái cây. Hạt giống Phật chúng được gieo trên lời đại nguyện của Bồ Tát lúc ới phát tâm. Toàn bộ công phu hành trì, tu tập về sau chỉ là sự cày bừa canh tác và giữ gìn cho hạt giống đó phát triển mà thôi.

Quy y và sùng bái chư Phật cùng chư Bồ Tát là một bộ phận không thể thiếu của Bồ Tát hạnh. Hành giả dâng phẩm vật cúng dường lên chư Phật  – Bồ Tát theo một nghi thức cực kỳ trang nghiêm, rất giống với nghi thức của Bà-la-môn giáo. Hành giả tiến hành sám hối (pāpadeśanā) tất cả mọi tội lỗi trước mặt chư Phật – Bồ Tát, và cầu xin sự hộ trì trên con đường tu tập. Sẽ sai lầm khi cho rằng đây là nghi thức sùng bái một đối tượng khác, như trong các tôn giáo hữu thần. Chư Phật chỉ là lý tưởng cần chứng ngộ của hành giả, là tự ngã của chính anh ta ở trong một cảnh giới cao hơn. Cái hiện thực trở thành mục tiêu lý tưởng – vì mục tiêu lý tưởng tự bản chất chính là cái hiện thực – bằng cách luôn đặt mục tiêu lý tưởng đó trước mặt và sùng kính nó. Sùng bái chân chính là tự sùng bái: tự ngã thấp kém ở dưới được chuyển hóa thành tự ngã thù thắng trên cao – vốn tiềm ẩn trong chính nó; tự ngã thấp kém tự xả bỏ chính mình, còn tự ngã thù thắng trên cao thì nâng đỡ tự ngã thấp kém ở dưới đến với cảnh giới mới. Phật giáo chỉ có thể là một hình thức Phiếm thần giáo của Tuyệt đối luận.

(ii) Pháp môn tu hành của Phật giáo luôn là tam học Giới-Định-Tuệ (śȋla-samādhi-prajñā). Giáo lý về các pāramitā (Ba-la-mật) không phải thay thế nó hoàn toàn mà chỉ bổ sung và hoàn chỉnh nó thành pháp môn lục độ. Điều này đã đem lại ưu thế nổi trội cho những giai đoạn chuẩn bị và nhấn mạnh đến các đức tính Bố Thí và Nhẫn Nhục; đồng thời buộc hành giả phải nỗ lực tinh tấn không ngừng, tín tâm vĩnh viễn bất thoái chuyển, xem đó là điều kiện tất yếu để đạt đến Phật quả. Vai trò chủ đạo của Prajñā (trí Bát nhã) đối với các pāramitā khác được trình bày đầy đủ và rất rõ ràng trong kinh điển. Mặc dù trong các tông phái Phật giáo nguyên thủy, Prajñā vẫn được coi là cực đỉnh của sự tu tập, song dường như vẫn có khuynh hướng thiên về việc tạo công đức và tu định, xem đó là pháp môn tu hành chủ yếu. Ở đây Prajñā đã tạo nguồn cảm hứng cho toàn bộ công phu hành đạo; mọi công đức, phước đức và công phu tu định đều hướng về việc thể ngộ được Thực tướng. Trọng tâm hành đạo của Phật giáo chuyển từ trục đạo sang trục siêu hình học.

Quan niệm về pāramitā đã tạo nên một cuộc cách mạng trong quan niệm về đức hạnh. Các pāramitā như dāna (bố thí), śȋla (trì giới), kşānti (nhẫn nhục), và dhyāna (thiền định) không phải là những hành động rời rạc không mục đích. Chúng được hành trì cũng không phải để thích nghi với truyền thống hay áp lực của xã hội, mà chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là đạt đến Vô thượng Chính đẳng Chính giác. Tâm phiền não (sakleśa citta) luôn bị dao động bởi tham dục và mê chấp vào thế gian sẽ không thể nào thấy được chân lý; tâm bất định (asamāhita citta) sẽ không bao giờ thể ngộ được chân lý vì thiếu cường độ tập trung. Tất cả các pāramitā đều cho công năng thanh tịnh hóa tâm ta, giúp nó tiếp nạp được trực giác về cảnh giới tuyệt đối, tức Prajñā (trí Bát nhã). Chỉ Prajñāpāramitā (Bát nhã Ba-la-mật) mới có thể tựu thành viên mãn cho các pāramitā kia, khiến cho mỗi pāramitā được là pāramitā – hay sự toàn mãn. Làm thế nào mà một người có thể bố thí tất cả mọi thứ mình đang có mà không hề mong đợi một sự đáp đền, nếu như trong tâm người đó không tin một cách sâu sắc rằng tất cả những sự vật đó đều không phải là của mình, thậm chí anh ta còn thấy mình có lỗi khi chiếm hữu chúng nữa. Khi bị người khác làm nhục hay xúc phạm, khó lòng mà kiềm chế để không trả đũa, trừ phi trong tâm ta tin một cách sâu sắc rằng trong thực tế chẳng có gì mất đi, ngay cả kẻ thù gây điều ác cho ta cũng không có thực. Nếu không thể hội được thực tướng tối hậu, thì mọi đức hạnh hay công đức sẽ không thể nào tựu thành viên mãn. Do đó, kinh điển chỉ ra rằng Prajñā đứng đầu tất cả các pāramitā.

Tu dưỡng tâm linh tức là tự tu dưỡng bản thân. Không hề có một áp lực nào từ bên ngoài có thể bắt Bồ Tát phải tu tập; cũng không hề có một uy lực nào từ bên ngoài có thể đem hành giả đến cảnh giới giác ngộ, trừ công phu hành trì tinh tấn. Điểm tinh yếu trong việc tự tu dưỡng là tạo ra được sự thay đổi cho tự thân, chứ không phải cho môi trường chung quanh. Cái hóa thế giới ngoại tai để bắt nó phải thích nghi với dục vọng của ta là cách làm của con người thế tục; điều đó giống như lót thảm cho toàn trái đất để tránh bị gai đâm. Ta có thể đạt đến kết quả tương tự, một cách hiệu quả hơn và ít tốn kém hơn bằng cách trang bị cho mình một đôi giày. Thay vì tìm cách chế ngự sự vật ngoại tại, ta cần phải chế ngự tâm mình để nó trở nên vô nhiễm đối với ảnh hưởng bên ngoài. Tu dưỡng tâm linh chính là tài bồi, nuôi lớn Bồ-Đề tâm vậy.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy của triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s