Sàng lọc – Phần cuối


Việc hy vọng rằng các công ty lớn sẽ ngừng quảng cáo là điều không thực tế. Những công ty lớn không phải là người đầu tiên ngừng làm việc này. Sẽ tốn nhiều năm để bắt đầu với mức ngân sách nhỏ hoặc không có ngân sách cho quảng cáo để một công ty nhận ra mình không cần đến quảng cáo. Đối với AdSense, to lớn chưa chắc đã có lợi thế. Thay vào đó, không gian quảng cáo mới mẻ của AdSense đã giải phóng một tỷ doanh nghiệp nhỏ và trung bình vốn không bao giờ nghĩ đến chứ chưa nói gì đến đứng lên phát triển một chiến dịch quảng cáo tuyệt vời. Nhưng với hệ thống đồng đẳng giữa các cá nhân, những quảng cáo như thế có thể được sản xuất bởi những người dùng đam mê (và cả ghen tị) và được đăng tải rộng rãi trên các trang blog, ở đó, những quảng cáo tốt nhất sẽ được nâng cấp và thông qua kiểm tra và thiết kế lại cho đến khi chúng đạt hiệu quả tốt nhất.

Bằng cách lần theo những xu hướng của sự chú ý, chúng ta nhận ra rằng vẫn còn rất nhiều phần của sự chú ý còn chưa được khai thác. Esther Dyson, nhà tiên phong của Internet thời kỳ đầu và cũng là một nhà đầu tư, từ lâu đã phàn nàn về tình trạng mất cân bằng chú ý về email. Vì là một người hoạt động tích cực trong việc xây dựng quản trị mạng và đầu tư cho nhiều startup sáng tạo, hòm thư điện tử của bà đầy email từ những người mà bà không biết. Bà nói, “Email là một hệ thống cho phép người khác lên danh sách việc cần làm hộ tôi”. Hiện nay việc gửi email là miễn phí. Hai mươi năm trước Ester đã đề xuất một hệ thống cho phép người dùng thu tiền của người gửi mail đến cho họ. Nói cách khác, bạn phải trả tiền để email của bạn được đọc bởi Esther. Bà sẽ định giá 25 cent cho một người gửi (chẳng hạn là sinh viên) hoặc định giá cao hơn (chẳng hạn là 2 USD) cho một thông cáo báo chí từ công ty quan hệ công chúng (PR). Bạn bè và gia đình thì vẫn được gửi mail miễn phí, nhưng một người muốn gửi bản thuyết trình dài dòng cho bà để xin được đầu tư thì sẽ phải trả 5 USD phí khi gửi mail. Phí gửi mail cũng có thể được hoàn trả (hoặc không mất đi) nếu mail gửi tới chưa được đọc. Esther là một nhà đầu tư được săn đón, nên mức sàng lọc mặc định của bà phải cao với giá 3 USD một email được đọc. Một người thường sẽ không yêu cầu mức phí tương tự, nhưng mọi mức phí đặt ra đóng vai trò như một bộ lọc. Quan trọng hơn, mức phí vừa đủ để đọc mail như một dấu hiệu cho thấy email này được coi là quan trọng vì người gửi sẵn sàng trả tiền để người nhận đọc nó.

Một người nhận thư không nhất thiết phải nổi tiếng như Esther đến nỗi phải trả tiền cho người nhận để thư được đọc. Họ có thể là một người có ảnh hưởng nhỏ. Một chức năng cực kỳ mạnh mẽ của đám mây là gỡ rối mạng lưới chồng ché người theo dõi và người được theo dõi. Sự cải tiến mạnh mẽ của đám mây có thể lần ra mọi mối quan hệ gây ảnh hưởng. Những người có ảnh hưởng lên một nhóm nhỏ (và nhóm nhỏ này vốn có ảnh hưởng với những người khác) sẽ có xếp hạng khác với những người có ảnh hưởng lên một nhóm nhỏ không có ảnh hưởng với ai. Địa vị trên mạng rất cục bộ và cụ thể. Nguyên tắc trả tiền để có được sự chú ý có thể được mở rộng sang lĩnh vực quảng cáo. Chúng ta tiêu tốn sự chú ý của mình cho các quảng cáo mà không được gì? Tại sao ta không tính phí cho các công ty khi họ muốn ta xem quảng cáo của họ. Theo kế hoạch của Esther, những người khác nhau sẽ ra những mức giá khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc của quảng cáo đó. Ngược lại, đối với nhà bán hàng, những người xem khác nhau lại có những cái giá khác nhau để thuyết phục họ xem quảng cáo. Một số người dùng tiềm năng có thể có giá trị khá lớn. Các nhà bán lẻ nói về tổng chi tiêu trong đời một khách hàng và một khách hàng (được dự tính sẽ tiêu 10000 USD trong đời để mua hàng ở một cửa hàng bán lẻ cụ thể) sẽ có giá bằng một lần khuyến mại đầu trị giá 200 USD. Khách hàng cũng sẽ có tổng số ảnh hưởng trong đời, vì ảnh hưởng của họ sẽ tác động đế những người theo dõi họ và những người theo dõi của những người theo dõi đó, và cứ thế nối tiếp. Tổng số ảnh hưởng này được cộng lại và ước tính cho cả đời. Đối với những người được chú ý nhiều trên mạng với tổng số ảnh hưởng trong đời cao, công ty sẽ thấy việc trả tiền cho họ là đáng hơn trả cho những nhà sản xuất quảng cáo. Công ty có thể trả cho những người đó bằng tiền mặt hoặc các dịch vụ, hàng hóa giá trị. Đây chính xác là những gì túi quà tại lễ trao giải Oscar đã làm. Năm 2015, những túi quà dành cho một số ứng viên giải Oscar chứa đầy những món đồ với tổng trị giá 168.000 USD với son môi, kẹo, gối du lịch và các gói du lịch với khách sạn sang trọng. Những người bán hàng đã tính toán hợp lý rằng những ứng viên giải Oscar là những người có lượng chú ý cao. Những người này thực ra không có nhu cầu đối với những món quà ấy, nhưng họ có thể nói về những món quà đó trước những người hâm mộ, và ảnh hưởng của họ khiến người hâm mộ mua những thứ đồ này.

Những người đoạt giải Oscar chắc chắn là một ngoại lệ (vì đâu có nhiều người đạt đến tầm ảnh hưởng như thế). Nhưng ở quy mô nhỏ hơn, những người nổi tiếng ở địa phương cũng có thể tập hợp được một lượng lớn những người theo dõi trung thành và có thể ghi được một số điểm ảnh hưởng lớn. Nhưng mãi đến gần đây, việc tìm ra những người có tầm ảnh hưởng nho nhỏ trong tổng dân số hàng trăm triệu người vẫn là bất khả thi. Ngày nay, những tiến bộ trong công nghệ sàng lọc và chia sẻ phương tiện truyền thông đã giúp những người nổi tiếng ở quy mô nhỏ được phát hiện dễ dàng và với số lượng lớn hơn.

Chúng ta vẫn chưa khám phá hết các cách có thể để trao đổi và quản lý sự chú ý và sự ảnh hưởng. Một lục địa mới mẻ đang mở ra trước mắt. Một trong những mô hình khả thi và thú vị nhất, như việc trả tiền để “mua” sự chú ý hay sự ảnh hưởng, vẫn chưa được hình thành rõ ràng. Những hình thức chú ý trong tương lai sẽ xuất hiện từ các luồng ảnh hưởng (nói cách khác, ở đâu có sự ảnh hưởng, ở đó có sự chú ý). Những luồng ảnh hưởng này vốn là đối tượng của các hoạt động theo dấu, sàng lọc, chia sẻ và remix. Phạm vi dữ liệu cần để chi phối sự chú ý sẽ lên đến một mức độ phức tạp mới.

Cuộc sống của chúng ta đã phức tạp hơn năm năm trước một cách đáng kể. Chúng ta cần phải chú ý đến nhiều nguồn thông tin hơn để tìm việc, học tập, để dạy, hay thậm chí là để giải trí. Số lượng nhân tố và khả năng chúng ta cần tính đến gia tăng mạnh mẽ mỗi năm. Do đó tình trạng liên tục bị sao nhãng và sự thay đổi không ngừng từ thứ này sang thứ khác của chúng ta không có gì tiêu cực, mà đó là sự thích nghi cần thiết với môi trường hiện tại. Google không làm chúng ta trở nên bị động. Thay vào đó, chúng ta cần lướt web để luôn được cập nhật về những thứ mới nhất. Não bộ của chúng ta không thể phát triển để giải quyết các con số quá lớn vì lĩnh vực này vượt ra ngoài khả năng tự nhiên của con người. Do đó chúng ta cần có một hệ thống hoạt động theo thời gian thực gồm nhiều lớp sàng lọc để có thể vận hành suôn sẻ trong vô vàn lựa chọn mà chúng ta đã tạo ra.

Một động lực chính của sự bùng nổ những lựa chọn này là sự dư thừa của những thứ giá rẻ, dư thừa đến nỗi chúng ta luôn cần gia tăng việc sàng lọc. Nhìn chung, công nghệ thường hướng đến sự miễn phí. Xu hướng này làm cho mọi thứ trở nên dư thừa. Ban đầu, có thể ta sẽ thấy khó tin rằng công nghệ muốn làm ra những thứ miễn phí. Nhưng thực tế là mọi thứ ta tạo ra đều như vậy. Nếu công nghệ được duy trì đủ lâu, giá trị của nó sẽ tiến gần đến con số không. Trong tương lai, bất kỳ thiết bị công nghệ nào cũng sẽ vận hành như thể nó là đồ miễn phí. Xu hướng tiến đến sự miễn phí này dường như đúng với mọi thứ cơ bản như đồ ăn hay đồ dùng (gọi chung là hàng hóa) và những thứ phức tạp như thiết bị, cũng như những dịch vụ và những thứ mô hình khác. Giá cả trên mỗi đơn vị của những thứ này đang giảm dần, nhất là kể từ khi cách mạng công nghiệp nổ ra. Theo kết quả công bố bởi Quỹ Tiền tệ Quốc tế năm 2002, “Trong 140 năm qua, có một xu hướng giảm 1%/năm của giá cả thực của hàng hóa”. Trong một thế kỷ rưỡi nữa, giá cả sẽ giảm về đến không.

Những thứ tiến dần đến tình trạng miễn phí không chỉ là các con chip máy tính và các thiết bị công nghệ cao. Gần như mọi thứ chúng ta làm ra, trong mọi nền công nghiệp, đều đang ở trong một xu hướng kinh tế giống nhau, đó chính là xu hướng rẻ hơn mỗi ngày. Lấy một thí dụ về sự sụt giá của đồng. Theo số liệu từ năm 1800, biểu đồ giá của đồng đang hướng xuống. Trong khi tiến dần đến không (dù có những lúc giá tăng, giảm), giá của đồng sẽ không bao giờ đạt đến mức miễn phí tuyệt đối. Thay vào đó, nó sẽ tiến đến vị trí này, gần hơn, mỗi lần lại thu hẹp khoảng cách một ít. Xu hướng tiến đến giới hạn nhưng không bao giờ chạm đến giới hạn gọi là tiến tới đường tiệm cận. Giá cả không bằng không, mà chỉ ở mức cận không. Trong ngôn ngữ chuyên môn, nó được gọi là tình trạng “quá rẻ để đo lường” – quá gần không để quan tâm theo dõi.

Tình trạng này đã gây nên một câu hỏi lớn trong thời đại giá rẻ: Điều gì thực sự có giá trị? Một nghịch lý là, sự chú ý của chúng ta dành cho hàng hóa cũng chẳng đáng giá mấy. Thứ duy nhất đang gia tăng giá trị trong khi giá của mọi thứ khác đều lùi về không chính là kinh nghiệm của con người, thứ không thể bị sao chép. Còn những thứ khác đều trở thành hàng hóa và có thể được sàng lọc.

Giá trị của kinh nghiệm đang tăng lên. Và những loại hình giải trí cũng đang đắt lên 6,5% mỗi năm. Việc tiêu tiền vào các nhà hàng và bar tăng 9% chỉ trong năm 2015. Giá của một vé xem hòa nhạc trung bình đã tăng gần 400% từ năm 1982 đến 2012. Giá chăm sóc sức khỏe ở Mỹ cũng tăng 400% từ năm 1982 đến 2014. Không phải ngẫu nhiên mà con người rất giỏi tạo ra và tiêu thụ những trải nghiệm, điều robot không làm được. Nếu bạn muốn biết con người đang làm gì khi robot chiếm lấy những công việc hiện tại, hãy nhìn đến những trải nghiệm. Đó là nơi chúng ta tiêu tiền (vì các trải nghiệm này sẽ không miễn phí), và cũng là nơi chúng ta kiến tiền. Chúng ta sẽ sử dụng công nghệ để làm ra hàng hóa, còn bản thân chúng ta lại tạo ra những trải nghiệm để chính mình không bị biến thành hàng hóa.

Điều thú vị về toàn bộ những công nghệ làm gia tăng kinh nghiệm và sự cá nhân hóa này là nó đã đặt áp lực lớn lên chúng ta về việc tìm hiểu chúng ta là ai. Chúng ta sẽ sớm sống giữa Thư viện của Mọi thứ và được vây quanh bởi các dòng chảy của mọi tạo vật miễn phí của nhân loại mà chúng ta có thể truy cập ngay trong tầm tay. Những bộ lọc tuyệt vời sẽ ở ngay bên ta, lặng lẽ dẫn đường cho ta và sẵn sàng phục vụ mong muốn của ta. “Bạn muốn gì?”, bộ lọc hỏi. “Bạn có thể chọn bất cứ thứ gì”. Bộ lọc theo dõi ta trong nhiều năm và đoán trước được chúng ta sẽ hỏi gì và có thể tự động hoàn tất yêu cầu ấy. Vấn đề là, chúng ta không biết mình cần gì. Chúng ta không thực sự hiểu bản thân mình lắm. Ở một vài mức độ, chúng ta phụ thuộc vào bộ lọc để chỉ ra cho ta thấy mình muốn gì. Đó không phải là một người chủ, mà là một tấm gương. Chúng ta sẽ lắng nghe những gợi ý và đề xuất được đưa ra dựa trên thói quen của chúng ta để biết được ta là ai. Hàng trăm triệu dòng mã chạy trên hàng triệu máy chủ của một đám mây kết nối đang sàng lọc nhiều lần để tinh lọc chúng ta đến một điểm duy nhất, để tối ưu hóa tính cách của chúng ta. Việc sàng lọc nhiều hơn là điều không thể tránh khỏi vì chúng ta không thể ngừng làm ra những thứ mới. Điều quan trọng giữa những thứ mới mẻ chúng ta sẽ tạo ra là những cách sàng lọc và cá nhân hóa mới để chúng ta được là chính mình.

TH: T.Giang –  CSCI

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s