Ủy ban Ba bên quan tâm tới châu Âu – Phần II


Những thể chế khác cũng bị đụng tới, dù ở một mức độ ít hơn, bởi sự sụp đổ của uy quyền đạo đức. Quân đội chẳng hạn, trước kia là một trường học kỷ luật, cũng như từng là biểu tượng và hiện thân của những giá trị yêu nước, đã mất đi sự hấp dẫn đạo đức và tâm lý cũ. Đúng là người ta đang phải trao nền quốc phòng cho một quân đội nhà nghề, còn một quân đội quốc gia dựa vào nghĩa vụ quân sự, nơi đào tạo đối với công dân và mô hình uy quyền, thì đang dần mất đi. Nó chẳng có gì để đề xướng nữa và đang bị đẩy lùi xa khỏi dòng chảy lớn của những liên hệ con người. Thế là một thành trì đạo đức khác của xã hội phương Tây đang từ từ tan rã (…).

Sự yếu ớt của các thể chế dẫn tới những hậu quả quan trọng. Một mặt, việc đưa giai cấp công nhân vào trò chơi xã hội chỉ mang tính chất cục bộ, nhất là ở các nước Mỹ Latin và ở Pháp. Mặt khác, các tổ chức và những người thừa hành có gốc gác từ giai cấp trung lưu đang là một sức mạnh bảo thủ có tác dụng làm tê liệt người ta.

Tình trạng không hội nhập của giai cấp công nhân đang gây trở ngại cho những cuộc thương lượng trực tiếp và cho sự thông cảm lẫn nhau giữa các đối tác xã hội, khiến cho doanh nghiệp châu Âu dễ bị tổn thương hơn. Nguồn gốc của tình trạng không hội nhập ấy là việc từ chối thực hiện những nhiệm vụ thấp hèn và được trả công ít, mà người ta thấy phổ biến ở lớp trẻ. Để giải quyết vấn đề sức lao động, các doanh nghiệp phải trông cậy vào sự di cư lao động từ Nam Âu và Bắc Phi. Nhưng chính sách này, tuy đã thành công lớn và cho phép công nghiệp châu Âu phát triển trong những năm bùng nổ, đã tạo ra những khó khăn mới trong đời sống cộng đồng của các công dân. Và dần dần, hiện lên một nhân tố bất ổn khác, do những người lao động nước ngoài đặt lại vấn đề về vị trí của họ trong hệ thống kinh tế và xã hội, cũng như về phạm vi những khả năng mở ra cho họ (…).

Khủng hoảng của giới trí thức

Giới trí thức cũng là một nguồn quan trọng đưa tới những đảo lộn cho các xã hội phương Tây. Daniel Bell đã nhấn mạnh đúng đắn tới vai trò căn bản của văn hóa vào cuối buổi bình minh của các xã hội hậu công nghiệp. Tri thức có xu hướng trở thành của cải chủ yếu đối với loài người. Những người trí thức, với tư cách một nhóm xã hội, đang tiến lên tuyến đầu của những cuộc chiến đấu xã hội – chính trị, và những liên hệ của họ với xã hội đang biến đổi căn bản (…).

Thành tố đầu tiên của cuộc khủng hoảng này trước hết là một vấn đề về số lượng. Sự ra đời của xã hội hậu công nghiệp đòi hỏi một sự tăng thêm nhiều con số những trí thức, những trí thức tương lai và những người “cận trí thức” (para intellectuels). Không những các nghề nghiệp trí thức hiện có đang phát triển, mà nhiều nghề nghiệp mới cũng như nhiều hoạt động vốn không phải là trí thức nhưgn đang trở thành trí thức cũng được tạo ra. Tuy nhiên, con số trí thức càng tăng lên, thì uy tín xã hội của họ càng giảm đi. Chúng ta đang đứng trước nghịch lý này: một nghề nghiệp càng có vẻ cần thiết một cách căn bản, thì uy tín và ảnh hưởng của người nào không thuộc về nó một cách thật hiển nhiên – với tư cách cá nhân – càng nhỏ. Vấn đề này chắc sẽ không được đặt ra nếu sự xã hội hóa và các cơ chế truyền thụ ăn khớp với trạng thái mới của sự vật. Nhưng giáo dục lại vẫn tiếp tục nằm trong khuôn khổ đạo đức quý tộc truyền thống dựa trên uy tín, và mọi người lầm tưởng rằng cá nhân mình đang tham gia một tập hợp hoạt động và liên hệ với thế giới bên ngoài không còn tồn tại nữa. Ngoài ra, những hành vi ngày càng thủ cựu của mỗi người nhằm thăng tiến và hiện đại hóa vai trò của mình đang đưa tới những hiệu quả kết hợp gần bằng không (…).

Những phương tiện truyền thông đại chúng

Tính dễ tổn thương của thế giới văn hóa và tầm quan trọng của nó đối với toàn bộ xã hội là do vị trí trung tâm mà nó chiếm giữ được trong hai hệ thống nhỏ cốt yếu trong thời đại chúng ta: giáo dục và những phương tiện truyền thông.

Giáo dục cho thấy vài ví dụ về những mâu thuẫn mà thế giới hiện thời đang gánh chịu. Uy tín của giáo viên và giáo sư thì giảm đi, nhưng con số của họ lại tăng lên nhiều, còn những hy vọng của họ vẫn mang màu sắc truyền thống tự do. Chính họ, hơn những người trí thức khác, đang phải đương đầu trực tiếp với cuộc cách mạng, sẽ làm đảo lộn những liên hệ con người, đồng thời làm suy yếu những phương tiện kiểm soát truyền thống của họ. Song song với điều đó, những thay đổi về mặt văn hóa đã làm biến mất sự hướng dẫn đạo đức có tác dụng kích thích mà xã hội cần có. Vì vậy, sự truyền thụ những chuẩn mực xã hội, chính trị và văn hóa đã bị rối loạn sâu sắc và sự rối loạn ấy đã mở rộng ra toàn bộ xã hội. Các nghiên cứu cho thấy rõ quy mô của những rạn nứt và sự lạc hướng đang chiếm ưu thế trong nhiều khu vực dân cư. Đúng là ứng xử của các cá nhân không bị ảnh hưởng, nhưng họ không thể phó thác cho một sự hợp lý hóa chặt chẽ của bối cảnh trong đó họ đang sống, và họ cảm thấy bị lạc đường khi họ muốn dấn mình vào xã hội. Cuộc cách mạng vô chính phủ, tình trạng bị đẩy ra lề và bị tha hóa đang tăng lên một cách nguy hiểm là do sự trống rỗng thí thức này mà có.

Đúng là cuộc khủng hoảng của những phương tiện truyền thông đại chúng không sâu sắc bằng cuộc khủng hoảng của giáo dục. Nhưng nó đang tồn tại, do sự bùng nổ và phổ biến thông tin cũng như do việc áp dụng những giá trị mới do trí thức đề xướng. Ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với chính trị và đối với các chính phủ là trực tiếp hơn ảnh hưởng của giáo dục nhiều. Chúng tham gia một cách quyết định vào những biến đổi hiện thời bằng cách làm cho các chướng ngại cấm đoán thông tin bị hạ xuống dễ dàng hơn.

Như vậy, chúng góp phần vào việc làm rối loạn các cơ chế kiểm soát. Truyền hình đã đóng góp một vai trò hàng đầu vì nó làm cho không thể duy trì được tình trạng manh mún văn hóa và lối tổ chức đẳng cấp cần thiết cho hoạt động có hiệu quả của những phương tiện kiểm soát cũ. Với một tác động mới mẻ ở châu Âu hơn ở Mỹ và Nhật, nó đang vấp phải nhiều trở ngại hơn; với những khả năng chống cự của các xã hội bị chia nhỏ và bị phân tầng. Việc sử dụng nó cũng khác nhau nhiều tùy theo các tầng lớp hay giai cấp xã hội. Tuy nhiên, nó có một sức hấp dẫn đến mức công chúng và đời sống xã hội bị biến đổi sâu sắc. Cuối cùng, nó đã góp phần vào sự cải tổ báo chí viết. Tất nhiên, sức mạnh cảu những biến đổi là ở tính chất nhìn thấy được của thông tin. Chỉ tin tức nào có thể nhìn thấy mới là tin tức thật. Do đó, các nhà báo – những người canh giữ một chiều kích căn bản của đời sống công cộng – có một sứ mệnh hàng đầu để thực hiện.

Các phương tiện truyền thông đã trở thành một quyền lực tự chủ. Nói tới quyền lực thứ tư, không phải là điều gì mới mẻ. Nhưng từ nay chúng ta chứng kiến một bước ngoặt quyết định: nghề này có xu hướng tự điều tiết và chống lại những sức ép của những lợi ích tài chính và chính phủ. Ngành truyền hình bị đặt dưới quyền kiểm soát của chính phủ của nó đang tăng lên ở nhiều nước, đó là một dấu hiệu tiến bộ quan trọng. Trái lại, các cơ chế điều tiết tự chủ do các phương tiện truyền thông thiết lập dễ đi tới thiếu tính khách quan. Bằng cách tạo ra thông tin, các nhà báo gây một tác động tới đời sống công cộng và xã hội. Hơn nữa, mục đích của họ là tranh thủ công chúng ngày càng rộng lớn càng tốt; do đó họ có xu hướng gây ảnh hưởng tới hoạt động xã hội một cách chủ quan và thiên vị, trong khi những người làm công vụ, thay vì theo đuổi những tiêu hiện thực, lại phải hành động theo công chúng đó. Điều đó bao hàm một số hậu quả. Trước hết, các phương tiện truyền thông đã trở thành một cái hộp cộng hưởng khổng lề khuếch đại tất cả những khó khăn, tất cả những mối căng thẳng xã hội. Các phong trào và các thứ mốt vì thế đã giành được những mức độ rộng lớn hơn nhiều. Hiện nay, ngày càng khó thoát ra khỏi cơn lốc xoáy của những liên hệ công cộng để tập trung vào những vấn đề cốt yếu. Vả chăng, các phương tiện truyền thông đang lấy mất của chính phủ và, ở một mức độ nào đó, của các giới chức trách khác, cả thời gian, cả sự thông hiểu và cả sự tin cậy cần thiết cho sự cách tân và thử nghiệm. Ngoài ra, sức ép của các phương tiện truyền thông không tạo thuận lợi cho việc giải quyết một vấn đề quan trọng của xã hội hiện đại chúng ta, vấn đề được biết dưới cái tên “hiệu ứng phản trực giác” (effect contres-intuitif). Các hệ thống thường hoạt động theo lối kết quả chung của một hành động cá nhân đi ngược với mong muốn của những người thực hiện nó, và cũng đi ngược với trực giác mà họ có thể có trước đó. Vì thế, cần coi trọng những phân tích phương pháp hơn là những quan điểm trực tiếp của cá nhân, vì những quan điểm này là một yếu tố tạo nên tính thiên vị của các phương tiện truyền thông. Hộp cộng hưởng càng khuếch đại phần xúc cảm trong “kinh nghiệm sống” của mỗi người bao nhiêu, thì lại càng dễ đi tới một sự phân tích chủ quan về trò chơi phức tạp của các thủ lĩnh chính trị bấy nhiêu. Cuối cùng, cái lối nhấn mạnh tới những điều hiển nhiên cũng dễ bị uốn nắn và che đậy hệ tư tưởng giống như lối hùng biện. Tính tự chủ của các nhà báo không nhất thiết đưa tới sự thật hay tính minh bạch; nó cũng có thể làm biến dạng việc nhận thức hiện thực.

Vấn đề này có liên quan đặc biệt hơn tới các nhà báo – trí thức, những người này thường gắn bó với một số gái trị. Vì muốn thu hút sự chú ý của công chúng, họ để cho trò chơi này cuốn theo và, do đó, họ chịu trách nhiệm về những biến dổi về mặt văn hóa. Về lâu dài, vấn đề này có thể trở nên nghiêm trọng hơn nhiều so với vấn đề can thiệp của tư bản và chính phủ vào các phương tiện truyền thông, sự can thiệp này hiện nay có xu hướng giảm đi phần nào ở khắp nơi (…).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s