Cảnh giới tuyệt đối và Như Lai – Phần I


I/ Như Lai: Trung gian cần thiết giữa Cảnh Giới Tuyệt Đối và Hiện Tượng Giới

Như đã trình bày, Như Lai là nguyên lý trung gian giữa Cảnh Giới Tuyệt Đối siêu việt tư duy, ngôn ngữ và hiện tượng giới. Ta có thể cảm nhận được nhu cầu của vai trò trung gian trong tất cả các tuyệt đối luận. Triết học Vedānta phải nhờ đến Īśvara (Tự tại thiên), tách biệt với Brahman, giữ chức năng khai thị chân lý; còn Trung quán tông và Vijnānavāda thì chức năng này được thực hiện bởi Như Lai (Tathāgata).

Tánh Không (Śūnyatā) không nhất thiết phải được gọi là Tánh Không; Thực tướng hay Chân lý không hề được cấu thành theo cách ta có nhận thức được nó hay không. Nếu nhận thức của chúng ta cấu thành nên thế giới thì thực tướng hẳn đã nằm trong mối tương quan hỗ tương tồn tại với chủ thể nhận thức nó, và hoàn cảnh nó được nhận thức rồi. Nếu chấp nhận điều này có nghĩa là chấp nhận câu cách ngôn của Protogoras: “Con người là thước đo vạn vật”, với tất cả các hàm ý. Trong trường hợp này thì không có gì là sai cả, vì mọi kiến thức đều đúng đối với một người nằm trong ngữ cảnh đặc thù. Song Chân lý lại không là phi nhân cách [impersonal], mà nó phải luôn đúng với tất cả vạn sự, và tại bất kỳ thời điểm nào. Prajña (trí Bát nhã) hay Tánh Không (Śūnyatā) là bản tế (bhūtakoți) hay pháp tính (dharmatā), là bản thể nội tại của vạn hữu. Nó là Như Như (Tathāta) – tức “cái đó” [thatness] – thường hằng bất biến, không hề biến dị tại bất kỳ thời điểm nào (tathābhāvo’vikāritvam). Dù có được công nhận là chân lý hay không thì nó vẫn y nhiên như vậy, không hề bị ảnh hưởng gì. Không phải vì là một bộ phận thiết yếu của Chân lý mà nó được nhận biết, và tuyên bố là chân lý được.

Một người bị đóng khung trong phạm vi của hiện tượng giới thì không thể nào nhận biết được Cảnh Giới Tuyệt Đối; mọi kinh nghiệm của anh ta đều nằm trong và thông qua những phạm trù của tư tưởng, nghĩa là nằm cả trong phạm vi tục đế (samvŗti). Cảnh Giới Tuyệt Đối không thể nhận thức được Chân lý, vì tự thân nó chính là Chân lý. Hơn thế nữa, nó cũng không thể tuyên bố chân lý; vì điều này đòi hỏi ngoài kiến thức ra, còn phải có những công cụ truyền thông phù hợp. Chỉ những người nào hưởng thụ được cuộc sống lưỡng nguyên: một chân đặt trong hiện tượng giới, một chân đặt trong Cảnh Giới Tuyệt Đối, mới có thể hội được Cảnh Giới Tuyệt Đối, và khai thị nó cho người khác nhận biết. Do đó, có sự khác biệt giữa Như Như (Tathāta) – thức Thực tướng hay Chân Lý Tuyệt Đối – với Như Lai (Tathāgata) – tức người chứng ngộ Chân lý. Trong rất nhiều đoạn kinh văn của Aşțasāhasrikā và các kinh điển khác, Prajñāpāramitā được xem là mẹ của chư Phật. Từ vô lượng kiếp đến nay, chư Phật vì tâm đại bi vô lượng muốn cứu độ chúng sinh nên các Ngài từ bỏ cảnh giới hỷ lạc tối thượng mà giáng thể, để khai thị chân lý cho muôn loài trong lục đạo.

Tự tính của Cảnh Giới Tuyệt Đối – tức Tánh Không – không  bao hàm chức năng khai thị, một chức năng luôn gắn liền với chư Phật Như Lai. Cảnh Giới Tuyệt Đối là thực tại phi nhân cách nằm tàng ẩn bên dưới toàn bộ thế giới hiện tượng. Như Lai là đức Phật Thế Tôn (Bhagavān – Bạc-già-phạm) đã siêu việt tất cả mọi hạn độ, đầy đủ những đức tướng thù thắng trang nghiêm. Dù Tánh Không không nhất thiết phải hàm ý là dùng để chỉ Như Lai, nhưng nó cũng không đánh mất đi bản thể mình bằng cách phóng nhiệm tự thân, toàn nhiên thị hiện như một Đại Nhân Cách, một Thượng Đế. Bản chất của Thiện Lạc là “xuất lộ”. Phỏng theo một thuật ngữ của học phát tân Platon, ta có thể nói rằng Như Lai là “sự xuất lộ” [emanation] của Cảnh Giới Tuyệt Đối. Đối với lập trường này, có thể xảy ra hai luận điểm phản bác:

1/ Để thể hội được Cảnh Giới Tuyệt Đối, không nhất thiết phải có một người lưỡng nguyên sống trong hai cảnh giới, vì bất cứ người nào tinh tấn tu tập cũng đều có thể liễu ngộ được Cảnh Giới Tuyệt Đối.

2/ Một người lưỡng nguyên sống trong hai cảnh giới, ở giữa siêu nhiên giới và hiện tượng giới, là điều không đứng vững về phương diện lý luận; ta chỉ có thể sống một trong hai cảnh giới đó mà thôi, chứ không thể đồng thời sống trong cả hai cảnh giới được.

Chúng ta có thể nào không cần đến sự khai thị của Như Lai, mà vẫn thể nhập được Cảnh Giới Tuyệt Đối bằng các phương tiện lý luận thuần túy hay không? Một người bị đóng khung trong phạm vi của hiện tượng giới thì sẽ không có được phương tiện nào để có thể hiểu thế giới bên ngoài phạm vi đó. Tất cả các giác quan nhận thức của anh ta, thậm chí cho đến cả lý trí (buddhi), đều bị chi phối bởi vô minh (avidyā). Mọi tri thức của anh ta đều nằm trong phạm vi tục đế (samvŗți). Vậy thì ý thức biện chứng pháp, do cơ chế nội tại của nó, không thể giúp anh ta thể hội được cảnh giới tuyệt đối hay chăng? Có phải chính sự xung đột của Lý tính, thông qua vai trò biện chứng của chính đề và phản đề, sẽ giải quyết được sự xung đột này và đưa ta vượt ra ngoài Lý tính? Lớp vỏ cứng của lý tính có thể bị vỡ do áp lực bên trong, song lắm khi cũng do sự va chạm bên ngoài. Chúng ta đã thấy dược rằng sự xung đột này mang tính toàn triệt và không thể tránh khỏi trong triết học, bởi vì mọi trào lưu triết học với những kiến giải hoàn toàn khác nhau luôn nổi dậy, và kêu gào chúng ta phải công nhận nó là chân thực, và chỉ có nó mới đem đến được cho chúng ta bức tranh đúng đắn duy nhất về thực tại. Hễ xung đột càng mãnh liệt thì kết thúc càng chóng vánh. Prajñā (trí Bát nhã) xuất hiện như là màn cuối của tiến trình này.

Prajñā có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà không cần nhờ đến ngoại lực, đó là điều được thừa nhận. Quan niệm về Duyên Giác hay Độc giác Phật (Pratyeka Buddha) – người tự mình đạt đến giác ngộ mà không cần đến sự khai thị của chư Phật – đã dựa trên nền tảng triết học này.

Có một số ý kiến giá trị về lý do vì sao quan niệm trên đây không thể chấp nhận được, nếu vẫn giữ nguyên hình thức ban đầu. Sự xung đột trong Lý tính đã phát sinh, và ý thức biện chứng đã sẵn sàng hoạt động trong ta. Tuy nhiên, đây không phải là tiến trình tự động phát sinh một cách máy móc. Vì nếu như vậy thì bắt buộc bất kỳ người nào cũng đều có tuệ trí Prajñā, và đều có thể đạt được đến Cảnh Giới Tuyệt Đối, vì đó là sự vận hành tự nhiên dù họ có quan tâm hay không. Tiến trình tu tập tâm linh của mỗi cá nhân không thể bị trì hoãn hay tăng tốc vì bất cứ nhân duyên nào. Như vậy thì ta cũng cần chẳng phải học hay dạy triết học làm gì. Song trường hợp này lại không phải như thế.

Tất cả những điều này đều tương phản với phương pháp học tập thông thường của chúng ta là tiếp thu kiến thức từ người thầy. Ngay cả đối với các chân lý và công lý [axiom] tiên thiên thì cũng phải có vị thầy hướng dẫn ta tập trung vào chúng. Ý thức biện chứng dĩ nhiên là luôn hiện diện, nhưng phải có bậc chân sư giác ngộ khai thị thì chúng ta mới có thể nhận thức đúng đắn được ý nghĩa của nó. Đức Phật không tạo ra ý thức biện chứng, nhưng Ngài là bậc đạo sư giúp ta nhận thức trọn vẹn được ý nghĩa của nó. Trường hợp của Độc giác Phật (Pratyeka-Buddha) có vẻ như là một ngoại lệ, bởi vì các vị đó tự khai ngộ mà không nhờ đến sự giúp đỡ của thầy. Song ở đây ta cũng có thể nói rằng những vị đó đã nhận được khai thị trọng yếu của các bậc chân sư giác ngộ từ trong nhiều tiền kiếp.

Còn có một ý kiến phản bác khác, không chịu chấp nhận Như Lai vì cho rằng một người mà sống trong hai cảnh giới là điều hoàn toàn vô lý. “Nhân cách” là một khái niệm không tương thích với cảnh giới giải thoát, và ngược lại. Hoặc là hành giả đó sẽ ở mãi trong thế giới hiện tượng này cho đến khi nhập Niết Bàn, hoặc là sống trong Cảnh Giới Tuyệt Đối, chứ không thể có giai đoạn trung gian, hay một đối tượng điều giải nào. Trong sát na được tuệ trí Prajñā, hành giả đó sẽ bị cuốn hoàn toàn vào trong Cảnh Giới Tuyệt Đối. Không hề có giai đoạn mà vị đó tuyên bố đã giải thoát, vì ông ta không để lại một bút lục hay một dấu vết nào để chứng minh. Về phương diện lý luận mà nói thì hành giả đó thậm chí cũng không hề biết mình đã giải thoát; bởi vì khi còn trong vòng trói buộc mà hành giả lại cho rằng mình đã giải thoát, tức chưa chứng mà cho là đã chứng, thì người đó sẽ phạm sai lầm; còn khi đã được giải thoát thì hành giả đó cũng không còn ở trong cảnh bị trói buộc nữa để nhật biết rằng mình đã giải thoát, vì ông ta lập tức bị cuốn ngay vào trong cõi tuyệt đối.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s