Cảnh giới tuyệt đối và Như Lai – Phần II


Trong trường hợp này thì giải thoát là một tiến trình vô thức. Nếu tình huống đó thực sự xảy ra giống như ý kiến của người phản đối, thì người phản đối làm thế nào để có thể biết được rằng có Cảnh Giới Tuyệt Đối? Hành giả trở thành chính Cảnh Giới Tuyệt Đối, nhưng có thể ông ta không hề hay biết gì về nó cả, chừng nào ông ta còn ở trong hiện tượng giới. Không những bản thân hành giả không hề hay biết, mà ông ta còn bị người khác ngăn không cho biết nữa. Bởi vì xét về mặt giả thiết, thì những bậc đã giải thoát khác cũng vướng vào điều khó khăn tương tự, và do đó họ không thừa nhận có Iśvara hay Như Lai. Tuy vậy, sự phản bác vẫn bị vướng vào một nghịch lý: nó phủ nhận khả năng thể hội cảnh giới tuyệt đối của những người còn sống một phần trong hiện tượng giới nhưng người phản bác chỉ có thể thực hiện được sự phủ nhận đó nếu như bản thân họ đã thể hội được cảnh giới tuyệt đối.

Tự do tự tại, và vô ngã, đó là những phẩm chất phải được chấp nhận đối với một nhân cách. Có phải khi một hành giả đạt đến giải thoát là hoàn toàn đắm chìm vào Cảnh Giới Tuyệt Đối ngay lập tức đâu. Dù đã giải thoát, nhưng trong tâm hành giả vẫn còn mối quan hệ thiết thân với cõi hiện tượng, đủ để các vị ra sức cứu độ chúng sinh khỏi cõi sinh tử luân hồi. Giải thoát không có nghĩa là loại bỏ tính cách con người; mà mang tính cách con người cũng không có nghĩa là còn bị trói buộc. Đó có thể là một Con Người Giải Thoát, như đức Phật.

Theo kinh điển truyền lại về đức Phật Gautama thì sau khi chứng ngộ, đức Phật đã do dự không muốn thuyết pháp, nhưng sau đó vì lòng đại bi lân mẫn muốn cứu độ chúng sinh nên Ngài chấp nhận hoằng dương chánh pháp, đó là bằng chứng cho thấy về sự tồn tại và tính tất yếu của một Con Người Giải Thoát Trong Thế Giới Hiện Tượng.

II/ Thần tính quan

Cảnh Giới Tuyệt Đối hay Tánh Không (Śūnyatā) là thực tại tính phổ quát của thế giới, thực tại tính đó không mang tính chất con người. Mặc dù được đồng nhất với yếu tính tinh yếu với cảnh giới tuyệt đối, song đức Phật chủ yếu vẫn là một Con Người. Ngài là đối tượng để thờ phụng lễ bái. Phật tính chỉ có thể được thể ngộ trong ý thức tôn giáo phù hợp và trong truyền thống Phật giáo đã được thừa nhận. Về phương diện lý luận, ta có thể chứng minh được sự cần thiết phải có nguyên lý trung gian để điều hòa được cảnh giới tuyệt đối với hiện tượng giới. Để có được bản chất và thể cách của nguyên lý trung gian, ta lại phải quay ngược về với tôn giáo.

Đức Phật là đấng Thế Tôn, là Thần, có đủ các thần lực thù thắng, cùng hào tướng. Ngài có đầy đủ mọi quyền năng, vinh quang, danh vọng, tài sản, trí tuệ và uy thế. Ngài đã tận trừ được tất cả mọi tham dục, nghiệp lực, cùng hai loại chướng ngại là: phiền não chứng (kleśāvaraņa) và sở tri chướng (jñeyāvaraņa). Ngài là bậc chánh biến tri, đã đạt được hai loại trí là Nhất thiết trí (sarvajña) và Nhất thiết chủng trí (sarvājārajña); Ngài là đấng toàn giác, đã chứng ngộ Chân Lý Tuyệt Đối, tức Prajñāpāmitā, và hiểu rõ khắp cả thế gian. Trí tuệ của đức Phật bao gồm năm loại khác nhau:

1/ Vô nhị trí (advaya-jñānam): trực giác thuần túy về Cảnh Giới Tuyệt Đối, siêu quá cảnh giới nhị nguyên, không còn phân biệt hữu-vô.

2/ Đại viên cảnh trí (ādrśa-jñāna): trí tuệ giống như tấm kính lớn, soi chiếu được vạn pháp.

3/ Diệu quán sát trí (pratyavekşaņājñāna): trí tuệ quán sát vạn pháp một cách nhiệm màu, thấu triệt được tất cả các biện pháp mà không hề lẫn lộn một pháp nào.

4/ Bình đẳng tính trí (samatājñānam): trí tuệ nhận biết ta người đều bình đẳng, vạn pháp đều vô sai biệt, tất cả đều đầy đủ Phật tính.

5/ Thành sở tác trí (kŗtyanuşthānajñānam): trí tuệ tựu thành những phúc lạc cho tất cả chúng sinh.

Hai loại trí đầu tiên, nhất là vô nhị trí, thuộc về Pháp thân (Dahrmakāya) của đức Phật; hai loại trí thứ ba và thứ tư thuộc về Báo thân hay Thọ dụng nhân (Sambhogakāya); loại trí thứ năm thuộc về Ứng hóa thân (Nirmāņakāya). Không chỉ là đấng Toàn giác, đức Phật còn có những điểm toàn thiện, như Thập lực (daśabala), Tứ vô úy (catvārivaiśāradyāni), Tam thập nhị Đại bi (dvātrimśat mahākaruņāh)…

Kumārila, bằng những lý luận mạnh mẽ và không kém phần tinh tế, cho rằng chỉ có Ngôn Ngữ Vĩnh Hằng và Siêu Nhiên (tức Veda) mới được gọi là Nhất thiết trí, chứ không phải là bất cứ người nào, vì đã là người thì phải chịu sự chi phối của tham dục và tính khí cá nhân. Năng lực nhận thức, do đó, cũng bị hạn chế. Thông qua tu tập đức Phật có thể có nhiều kiến thức về sự vật hơn người khác, nhưng điều đó không bao giờ có thể đưa đến Nhất thiết trí được. Không một người nào, cũng không thể thấu triệt được vạn pháp đến từng chi tiết vi tế được. Điều này làm dấy lên một vấn đề: Bản chất của Nhất thiết trí là gì? Đó là trí tuệ về biệt tướng hay cộng tướng? Trí tuệ này hoạt động tương tục hay đồng thời? Cả đức Phật lẫn Vardharmāna và Kapila cùng nhiều người khác đều tuyên bố là đã đạt được Nhất thiết trí; nên rất khó lòng ác định ai là người thực sự đạt được, còn ai chưa. Có một điều chắc chắn là các vị mâu thuẫn lẫn nhau, và không ai trong số các vị lại có thể đồng thời xác thực được. Kumārila kết luận: Bậc kiến giả [seer] nhìn thấu suốt được cõi siêu nhiên, do đó, vẫn chưa ra đời; bất kỳ ai muốn biết một chút gì về cõi siêu nhiên đó đều phải nhờ vào Ngôn Ngữ Vĩnh Hằng (Veda).

Tuy nhiên, phản bác sự tồn tại của một con người toàn trí không phải là điều hợp lý. Một sự kiện đâu có thể bị phủ nhận chỉ vì lý do là mọi người chẳng ai nhận biết được nó. Có những bằng chứng tích cực về Nhất thiết trí của đức Phật, bởi vì đi theo con đường Phật dạy, con người có thể thoát ra khỏi sinh tử luân hồi (samsāra). Phần lớn những người lập luận phản bác Nhất thiết trí đều dựa trên sự giả định rằng: Nhất thiết trí là sự thủ đắc một năng lực mới, hoặc nó là tiến trình thu thập kiến thức đầy gian khổ. Một mặt Nhất thiết trí gạt bỏ ra khỏi tâm trí những phiền não (kleśa) đã len lỏi vào trong đó. Bản thân lý trí thì trong suốt, và kết hợp với thực tướng một cách tự nhiên. Bằng sự quán chiếu chư pháp vô tự tính (nairātmya-bhāvanā), ta có thể loại bỏ ra khỏi lý trí tất cả những phiền não. Do loại bỏ được những yếu tố chướng ngại nên Nhất thiết trí tự nhiên chiếu sáng, bởi vì không còn gì ngăn che nó nữa. Những người nào phủ nhận Nhất thiết trí thực ra là phủ nhận năng lực thoát khỏi phiền não của lý trí; về phương diện lý luận mà xét, thì họ phủ nhận luôn cả sự giải thoát (mukti).

Người ta có thể cho rằng khi một người thoát khỏi mọi phiền não, thì người đó cũng mất hết mọi năng lực cấu thành bằng ý niệm [ideation], và không thể tiếp thông được với chân lý, bởi vì đối với đức Phật sau khi giác ngộ thì lý trí không còn hoạt động nữa. Ngài đắm chìm trong Cảnh Giới Tuyệt Đối, và thiền định để tự quán chiếu mình. Thậm chí người ta còn cho rằng kể từ khi chứng ngộ cho đến lúc nhập Niết Bàn, đức Phật hoàn toàn không nói một lời nào. Nếu vậy thì Phật pháp được truyền bá như thế nào?

Các bậc đạo sư đại thừa đã đưa một số câu trả lời. Nāgārjuna, trong Catuh Stava (Tán ca tứ thú), đã nói: “Dù đức Thế Tôn không thuyết một lời nào, nhưng tất cả đồ chúng đều cảm thấy thỏa mãn với giáo pháp của Ngài”. Candrakȋŗti đưa ra ý kiến rằng đức Thế Tôn có thuyết pháp, nhưng chỉ một lần khi Ngài chứng ngộ, và những lời thuyết pháp đó tùy theo sở cầu và căn cơ của chúng sinh mà quét sạch vô minh. Đức Phật được ví với ngọc ma ni Như ý bửu (cintāmaņi) và cây Như ý thọ (kalpataru), cả hai đều tùy theo sở nguyện của chúng sinh mà làm cho họ được mãn túc. Cũng vậy, giáo pháp của đức Thế Tôn sở dĩ đa dạng là tùy theo sự khác biệt trong căn cơ và trình độ thành tựu tâm linh của chúng sinh, cái đó gọi là tùy thuận điều phục đệ tứ (vineyavaśāt). Về phần đức Thế Tôn, động cơ ban đầu thúc đẩy Ngài chuyển pháp luân là do đại nguyện (praņidhāna) đem an lạc tới cho tất cả chúng sinh, mà Ngài đã phát thệ trước khi chứng ngộ thành Phật. Ý hướng từ bi đó của đức Thế Tôn sau khi chứng ngộ cũng giống như bánh xe của người thợ gốm vẫn tiếp tục quay sau khi cái bình gốm đã được nặn xong.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s