Tin tức với vai trò là kiến thức công cộng – Phần VI


James Carey đã biện luận rất thông minh rằng tin tức gắn liền với một số mô hình giải thích nhất định – và loại bỏ hoặc hạn chế các mô hình khác. Mô hình giải thích chủ yếu củ đa số tin tức báo chí là “động cơ”. Hành vi có chủ thể, chủ thể có mục đích, mục đích giải thích cho hành vi. Đối với các bản tin chính trị, chủ thể thường là một chính trị gia hoặc ứng cử viên, động cơ thường là lợi thế hoặc quyền lực chính trị. Nếu mô hình giải thích này không đủ để hiểu một hành vi hoặc một sự kiện nào đó, nhà báo cũng có thể tìm đến các “nguyên nhân”, cơ chế hoạt động của các lực lượng xã hội hoặc thể chế rộng lớn hơn. Có một quy ước bất thành văn là nhà báo có thể gán các động cơ theo các căn cứ riêng của mình, nhưng nếu họ căn cứ vào các “nguyên nhân”, thì phải tìm đến các “chuyên gia” – khi đó vấn đề mới trở nên hoàn chỉnh.

Tin tức về “cái gì” cũng là một sản phẩm của các giả định văn hóa. Báo chí ở trung tâm đô thị đang ngày càng lệ thuộc vào độc giả ở vùng phụ cận, đôi khi nó còn trực tiếp phục vụ những nhu cầu và lợi ích giả định của họ. Nhưng một công trình nghiên cứu quan trọng về báo chí địa phương ở Philadelphia của Phyllis Kaniss cho thấy thành phố trung tâm vẫn là trái tim của các bản tin báo chí địa phương. Dù phần lớn bạn đọc không sống, làm việc, hoặc bỏ phiếu ở đó, nhưng “những tin tức về chính quyền và các cơ quan thành phố… chiếm vị trí hàng đầu, bỏ xa các vấn đề chính sách mà các cộng đồng phụ cận phải đối mặt”. Sự phát triển của các khu công nghiệp ở ngoại ô ít khi được chú ý, trong khi sự phát triển ở trung tâm thành phố hay cải tạo nhà ga cũ lại được đề cập liên tục. “Các dự án này chiếm vị trí thượng phong trên phương tiện thông tin địa phương không phải vì nó quan trọng đối với bạn đọc trong vùng, mà vì nó là trung tâm có tính biểu tượng”. Phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải rất nhiều nội dung mang tính biểu tượng đặc trưng của đô thị hoặc vùng địa phương, nhiều hơn cả những gì bản thân phương tiện truyền thông có thể biết, và chắc chắn là nhiều hơn cả những gì mà nó có thể tự giác sắp đặt. Nó giúp thiết lập một thực thế có uy lực về tâm lý – một “cộng đồng” – và trong ý thức của mọi người, thực thể đó không hề tồn tại trên mặt đất. Về mặt này, tin tức báo chí là con rối của các giả định chung, hơn là người cung cấp các thông điệp một cách tự giác.

Khi phát triển khái niệm báo chí như là một loại hình văn hóa, tôi không có ý định thay thế thuyết quyết định của xã hội và kinh tế chính trị bằng một ngành khoa học cứng nhắc tương tự – ngành “văn hóa học”. Nếu sử dụng “văn hóa học” kiểu đó, thì nhà báo sẽ trở thành một bánh răng nhỏ bé trong cỗ máy khổng lồ tái sản xuất ra những logic tượng trưng bất biến. Trái lại, tôi coi kinh tế chính trị học, địa lý học, các hệ thống xã hội và văn hóa tương tác với nhau theo những phương thức phức hợp điển hình mà dường như chỉ có lịch sử tường thuật tốt nhất mới nắm bắt được.

Tất nhiên, sự tương tác diễn ra theo thời gian. Văn hóa báo chí Mỹ thay đổi. Nó đã biến đổi trong hàng trăm năm qua theo một số chiều hướng đáng ngạc nhiên. Hai trong số các xu hướng biến đổi đó là “tựa đề tóm tắt” và “phỏng vấn báo chí”. Cả tựa đề tóm tắt và phỏng vấn báo chí, dù với tư cách là một hoạt động xã hội hay viết lách, đều là những hoạt động nền tảng của công tác báo chí ngày nay. Đó là các hoạt động mà những biên tập viên và phóng viên trước Nội chiến chưa thể hình dung. Cả hoạt động xã hội và quy ước viết lách báo chí đều bắt nguồn từ lịch sử. Các hình thức văn hóa không chui ra từ kẽ nứt mà đều có lịch sử hình thành của nó. Chúng phản ánh, gắn bó và củng cố các cấu trúc và giá trị của một xã hội cụ thể, theo những đường   hướng có thể minh chứng cho cả các cấu trúc và giá trị của báo chí, lẫn cho “thế giới” mà nó muốn đề cập.

Ngành báo chí với tư cách một hệ thống văn hóa chưa hẳn đã là hoàn hảo. Nếu đứng quá gần nhà báo là một mối nguy hiểm, thì đứng xa họ cũng là một nguy cơ. Mỗi nhà báo có một tiếng nói khác nhau. Về vấn đề này, tôi đã cố gắng ghi nhận trong khi khắc họa “Phóng viên là gì?”. Văn hóa báo chí không giống nhau giữa các phòng ban trong mỗi tòa soạn, giữa các loại hình phương tiện truyền thông khác nhau, và giữa các tổ chức báo chí khác nhau. Các nhà xuất bản cóo thể tạo ra những khác biệt to lớn. “Nếu bạn chỉ cho tôi một nhà biên tập tốt, tôi sẽ chỉ cho bạn một nhà xuất bản tốt”, Ben Bradlee – cựu chủ bút tờ Wahsington Post nói, “nhà xuất bản đó chính là ông chủ đã khuyến khích người biên tập này và cho họ các công cụ”. Các tờ báo khác nhau cũng hình thành các truyền thống lịch sử khác nhau. Tờ New York Times được coi là tờ báo của biên tập, tờ Washington Post được coi là tờ báo của người viết; các hãng khác nhau có các văn hóa tập đoàn khác biệt. Thậm chí chỉ một tổ chức báo chí cũng là bến đỗ của nhiều kiểu văn hóa khác nhau, và chiến tranh văn hóa có thể diễn ra – giữa các thế hệ khác nhau (cuộc chiến này diễn ra khắp mọi nơi), giữa người Do Thái và người bài Do Thái, giữa những ngườit heo học trường bình thường (City College) và những người theo học trường danh tiếng (Ivy League) trong tòa báo New York Times, giữa những người theo chủ nghĩa tinh hoa và những người theo chủ nghĩa đại chúng ở tờ Boston Globe.

Báo chí ở các thể loại khác nhau cũng khác nhau. Chỉ riêng tin tức chính trị cũng đã có sự khác nhau giữa tin sốt dẻo với phân tích báo chí mang tính suy ngẫm, với loạt bài điều tra chạy suốt ba số báo, với bài viết tạp chí, hay khác với các bài viết dài bình luận sâu hơn  về những vấn đề đã được đưa trước đó như là tin nóng. Ngay cùng một câu chuyện, cũng có những biến dị khác nhau, từ tiêu đề và bình luận chính mà các ấn bản có uy tín thường có xu hướng tôn trọng các nguồn tin chính thức, đến phần thân câu chuyện, trong đó có thể có nhiều cách giải thích khác nhau và một nội dung nào đó xuất hiện có thể trực tiếp đánh đổ cơ sở của một ấn bản chính thức (như câu chuyện về Reagan ở Louisiana trên tờ Los Angeles Times).

Như vậy, dù chưa đầy đủ, nhưng ít nhất bước đầu có thể khắc họa báo chí như là một thể chế văn hóa xã hội. Nó là một thể chế phức tạp hơn nhiều, chứ không đơn giản là một ý thức hệ chính trị trơn tru. Báo chí là một loại hình văn hóa; nhưng đặc trưng riêng của nó – cái mà tôi gọi là “tri thức chung” – thì vẫn cần phải trao đổi thêm.

Truyền thông có gây ra điều gì không?

Báo chí là một phần thông tin cơ bản để con người suy nghĩ thông qua nó và cùng với nó. Nó cũng là một trong những sự vật hiện tượng mà con người nghĩ về nó – tức là báo chí hoặc “giới truyền thông” nói chung. Khi xem xét một số niềm tin của mọi người đối với báo chí hiện nay, tôi cho đó là những niềm tin khá sai lầm. Tôi khẳng định, tính hiển thị của truyền hình được đánh giá quá cao như là một trong những nguồn gốc quyền lực của nó. Elliot King và tôi cho rằng báo chí đã liên tục thổi phồng tính đại chúng của Ronald Reagan trong năm đầu tiên trên cương vị tổng thống. Sự thổi phồng đó một phần vì niềm tin hăng hái của những người ở Washington cho rằng bất kỳ người nào có một hình ảnh đẹp trên truyền hình đẹp như Reagan thì đều phải gần gũi với công chúng. Và cuối cùng, tôi xem xét các di sản mà vụ Watergate để lại cho bái chí, xin ghi nhận tầm quan trọng của nó đối với văn hóa báo chí, nhưng đồng thời cũng xin lưu ý là cả nội các Nixon lẫn các chuyên gia truyền thông đều đã quá thổi phồng tác động của báo chí trong việc đánh đổ một tổng thống.

Những nội dung trên đều nhấn mạnh truyền thông như là một chủ đề trung tâm trong đời sống chính trị và văn hóa của chúng ta [nước Mỹ], và việc ước lượng quyền lực của nó thường bị thổi phồng quá đáng. Các nhà phê bình báo chí và thấy Siêu nhiên, trong khi thực tế đó chỉ là Clark Kent. Đáng buồn là nhận thức sai lầm đó không phải không có hại. Jeff Greenfield, một nhà bình luận thời sự của hãng tin ABC, đã cảnh báo nếu các công dân tin rằng sự “thần bí” của quyền lực truyền thông (đặc biệt là quyền lực truyền hình) là có thật, “thì điều đó sớm muộn gì cũng xảy ra một cách đương nhiên bởi vì nó sẽ làm cho các công dân xa rời các quá trình chính trị”. Không phải quyền lực truyền thông làm cho người dân bị tách rời, mà chính niềm tin của họ vào truyền thông và niềm tin về sự bất lực của họ khi đối mặt với phương tiện truyền thông đã làm việc đó. Niềm tin đó cũng gặm nhấm những người ưu tú theo các y hệt. Mọi người uống cạn nền văn hóa thống trị Washington. Như nhà báo Michael Kelly của tờ New York Times đã nêu, “tin vào điều tra xã hội. Họ tin vào truyền hình; họ tin và đối thoại; đặc biệt tin tưởng sâu sắc vào đối thoại truyền hình. Họ tin những lời châm biếm. Họ tin rằng không điều gì mà một nhà chính trị làm trước công chúng có thể được coi là giá trị bề ngoài của họ, mà tất cả những gì họ làm đều là biểu hiện của những gì họ che dấu… Trên tất cả, họ tin vào quyền lực của những gì do chính họ tạo ra, tin vào tính chủ quan của thực tiễn và thực tiễn của nhận thức, tin vào hình ảnh”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s