Tin tức với vai trò là kiến thức công cộng – Phần X


Báo chí với vai trò là kiến thức công cộng

Giả sử chúng ta đặt câu hỏi: Tại sao công chúng biến mất dần (nếu thực tế đó xảy ra)? Tại sao cộng đồng công dân tích cực đã bị tan rã (nếu thực tế đó xảy ra)? Như những gì được nêu ra, tôi không nghĩ đó là những câu hỏi chính đáng. Nhưng chúng lại là những câu hỏi thường gặp trong phê bình xã hội đương đại. Và nếu chúng ta tạm thời chấp nhận những câu hỏi đó, thì sẽ phải giải thích thực trạng ý thức công dân thấp kém hiện nay như thế nào?

Nửa tá lý do quan trọng hàng đầu không dính dáng nhiều đến truyền thông. Trước hết, có sự chuyển đổi từ nhà nước lấy Quốc hội làm trung tâm sang nhà nước lấy hành pháp làm trung tâm từ đầu thế kỷ này; từ một chính phủ quốc gia tập trung vào các vấn đề đối nội tới một chính phủ trong đó các vấn đề quân sự đã chi phối và “tình trạng an ninh quốc gia” có ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống chính trị của chúng ta từ những năm 1940; từ một xã hội của những “cộng đồng ốc đảo” trong chính trị địa phương có vai trò đáng kể và chính quyền liên bang chỉ tác động từ xa và từng đợt lên cuộc sống hàng ngày, sang một thế giới trong đó nhiều vấn đề mang tính liên bang đã làm cho cuộc sống Mỹ không tránh khỏi bị quốc gia hóa. Đó là các vấn đề thuế thu nhập (1913), an sinh xã hội và các chương trình phúc lợi khác (thập kỷ 1930), tài trợ trực tiếp cho giáo dục đại học và sinh viên đại học (1944), sự can thiệp tích cực của chính quyền liên bang vào các công việc địa phương nhằm thực thi Tu chính án thứ mười bốn (thập kỷ 1950), và trách nhiệm thường xuyên của liên bang đối với chính sách việc làm (thập kỷ 1930 và sau đó). Thêm vào đó là quá trình dân chủ hóa các đảng phái chính trị thông qua bầu cử cơ sở đã làm suy yếu quyền lực của nó, và thật nghịch lý là nó cũng làm giảm sức mạnh tham gia của các tổ chức đảng địa phương; cuộc cải cách bầu cử đó giống như một cuộc bỏ phiếu kín và việc đăng ký cử tri đã làm giảm số lượng người đi bầu, cũng như chấm dứt việc các đảng phái nhúng tay vào những cuộc bỏ phiếu; sự tập hợp và vận động đó đã làm cho cuộc sống gia đình có tính riêng tư hơn – ít đi lại ở các quán rượu, công viên, và cửa hàng đại phương, trong khi lại mở rộng quan hệ nhiều hơn với người dân và tổ chức ngoài các cơ sở chính trị theo địa bàn tại địa phương. Tất cả những điều đó liên quan nhiều đến đặc điểm của công chúng, phạm vi công chúng, và triển vọng của quyền công dân, chứ không dính dáng nhiều đến các thiên kiến, tập trung quyền sở hữu, hay chất lượng trí tuệ của truyền thông báo chí.

Tôi không hạ thấp vai trò thực sự của truyền thông báo chí; tôi muốn biết vai trò thực sự đó là gì thông qua việc xem xét truyền thông trong bối cảnh các lực lượng chính trị và xã hội khác như là những bộ phận của “hệ sinh thái” liên lạc công cộng rộng lớn hơn. Các cuộc tranh cãi về vai trò của truyền thông báo chí trong nền dân chủ vẫn liên tục diễn ra độc lập với nhau, như thể là tất cả những gì nền dân chủ cần là báo chí phải chuyển tải những thông tin tốt nhất có thể từ các chuyên gia báo chí, những người có khả năng đánh giá thông tin đó, đến với đại chúng người đọc, tức là người có thể sử dụng thông tin đó. Tất nhiên, bản tin chính trị nên thông itn đầy đủ cho người dân. Nếu không có các thông tin chính xác về quan điểm và giá trị của ứng cử viên, cử tri không thể bỏ phiếu một cách khôn ngoan; nếu không đưa tin đầy đủ về hoạt động của chính quyền giữa các kỳ bầu cử, thì công chúng quan tâm không thể giám sát hiệu quả hoạt động của những đại biểu mà họ đã chọn.

Nhưng một tập thể công dân có thể làm gì nếu họ thực sự có được thông tin? Điều gì sẽ xảy ra nếu các nhà báo chuyên nghiệp được tự do cung cấp những thông tin tốt nhất mà họ có thể, không bóp méo bởi sự cạnh tranh điên cuồng trong việc cấp tin, không tập trung vào những vấn đề không liên quan tới lợi ích của công chúng, không bị những yêu cầu thương mại ảnh hưởng – đó là yêu cầu buộc phải loại tin chính trị để thay thế bởi quảng cáo, thể thao, dạy chế biến món ăn, không bị kiểm duyệt do nỗi lo sợ rằng nếu viết quá sâu về chính trị thực chất sẽ làm công chúng chán ngán và khiến cho những câu chuyện này không được đọc. Nếu nhà báo có thể viết những gì họ muốn theo lý tưởng cao nhất của báo chí, thì có còn nền dân chủ không?

Đặt ra câu hỏi này tức là thừa nhận câu trả lời: tất nhiên là không. Công chúng với những thông tin sẵn có không phải là công chúng được thông tin đầy đủ. Ngay cả công chúng có thông tin trong đầu chưa hẳn là công chúng có các động cơ hoặc khuôn khổ tham khảo hoặc có khả năng hành động trong một nền dân chủ. Có sự khác nhau giữa “công dân thông tin” với công dân được thông tin. “Công dân thông tin” là người bị bão hòa bởi những “byte”, “bit” thông tin, còn công dân được thông tin là người không chỉ có thông tin mà còn có quan điểm và sự ưu tiên để biến thông tin trở nên có ý nghĩa.

Thực tế, một người có thể đưa ra những nhận xét lệch lạc rằng nếu báo chí cung cấp nhiều tin tốt hơn, thì xã hội chính trị càng bị ốm yếu hơn. Michael Robinson đã lý luận rằng: “Sự gia tăng những thông tin có sẵn trong xã hội, đặc biệt là trong xã hội tự do, nhiều khả năng sẽ làm tăng bất mãn và vỡ mộng chính trị  ở một mức độ nào đó”. Robinson cho rằng nếu báo chí càng phê bình và mang tính chiến đấu, thì nhiều khả năng những người thường xuyên xem và đọc tin sẽ thấy chính trị là một món ăn tồi. Những người khác đã cho rằng càng nhiều tin tức khách quan, càng có nhiều khả năng người đọc và người xem sẽ từ chối chính trị do không chịu đựng nổi. Tốt nhất là họ sẽ học cách đánh giá chính trị từ xa, như là các chuyên gia phê bình chứ không phải là các thành viên tích cực tham gia.

Nếu đúng như vậy thì thật thú vị. Nhưng nếu có các hiệu ứng đó, thì cũng hông thể là các hiệu ứng mạnh. Có một khoảng cách lớn giữa tin tức và hành vi chính trị. Tác động của tin tức lên hành vi chính trị luôn luôn khó xác định vì tin tức không phải là một thành tố tự chủ. Nó không tạo nên các cuộc tranh luận chính trị mà là phát lại, lọc ra và dùng lại những tranh luận đó. Do báo chí trở nên tiêu cực và chuyên nghiệp hơn trong một thế hệ qua, nên cánh hữu Mỹ được chính trị hóa nhiều hơn trên phạm vi đại chúng thông qua phong trào phản đối nạo phá thai – có lẽ nhiều hơn bất kỳ thời điểm nào trong thế kỷ này. Đó không phải là hậu quả mà các nhà phê bình truyền thông có thể đoán trước được. Họ thấy tin tức làm cho chính trị Mỹ trở nên bảo thủ hơn vì làm giảm vai trò của cánh tả, chứ không vì kích hoạt cánh hữu!

Trong khi đó, công dân đã bầu một số lượng đáng kể chính trị gia người da đen, đó là lần đầu tiên kể từ thời kỳ Tái thiết. Phụ nữ đã trở thành một lực lượng chính trị và đã được bầu vào các chức vụ chính trị với số lượng chưa từng có. Một phong trào môi trường rộng lớn và sắc sảo về mặt chính trị đã xuất hiện. Những cái đó không bị ngăn cản bởi quyền lực phá tan của truyền thông. Các hoạt động chính trị đó phải chăng đã phát triển to lớn hơn nhờ các tin tức tốt hơn? Có lẽ như vậy, nhưng tôi không nghĩ có bất kỳ nhà quan sát nào của các phong trào này gán bước thụt lùi hoặc vinh quang của chúng cho truyền thông. Hoạt động chính trị dẫn con người đi theo báo chí, chứ báo chí thường không dẫn con người đến hoạt động chính trị.

Ngay cả nghiên cứu tốt nhất về truyền thông và phong trào xã hội cũng nói nước đôi. Đó là cuốn sách về phong trào Sinh viên vì một xã hội dân chủ (SDS) trên tâm điểm truyền thông của Todd Gitlin. Một mặt, các bản tin của New York Times về thời kỳ đầu của SDS đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển nhanh chóng của tổ chức. Đó chính là quyền lực của sự khuếch tán thông tin – việc phát hành rộng rãi tin tổ chức được thành lập đã làm cho điện thoại văn phòng SDS bận liên tục. Nhưng với những bài báo tầm thường hóa và hạ thấp những nỗ lực của SDS, truyền thông đã góp phần đáng kể như thế nào vào sự tan rã của phong trào này, một phong trào dựa vào sinh viên và tương đối ít nguồn lực, đã bị suy yếu một phần bởi sự gia tăng của những nỗ lực phản đối được đầu tư nhiều tiền hơn và “hợp pháp” hơn của những người theo phái tự do truyền thống đang tập hợp phản đối Chiến tranh Việt Nam, và đã bị xé tan do cuộc chiến tư tưởng của những tổ chức cánh tả vốn đã nổi tiếng từ lâu? Gitlin cho rằng các bản tin truyền thông góp phần vào sự tan rã của SDS, và có lẽ ông đã đúng. Nhưng dễ thấy những bản tin cảm thông lúc đầu gây tổn hại cho SDS nhiều hơn những bản tin chỉ trích về sau. Những bản tin ban đầu là sự quảng cáo cho SDS, góp phần thu hút các thành viên mới. Các thành viên kiểu “Quyền lực thảo nguyên” này đã hất cẳng những “Lính cận vệ già”, chuyển đường hướng của SDS từ một cơ quan cánh tả có tổ chức sang một trung tâm điều hành một phong trào sinh viên đại chúng. Các thành viên mới thoáng hơn, kém kiên nhẫn hơn, và việc chuyển đổi ban lãnh đạo đã xé lẻ tổ chức. Không khó để có thể khẳng định rằng tác động của những thành viên mới trong SDS vào sự đổ vỡ của nó nhiều hơn tác động về sau của các bản tin báo chí bên ngoài đầy tính tùy tiện và hạ thấp. Phân tích của Gitlin rất thuyết phục đối với cái mà nó gọi là là khuôn khổ chính trị quy ước – hay “bá chủ” – của xu thế chủ đạo truyền thông báo chí, nhưng không có tính thuyết phục đối với việc nó ngụ ý coi báo chí như một lực lượng xã hội nói chung.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s