Tổng quan về logistics – Phần V


d/ Theo đối tượng hàng hóa

Các hoạt động logistics cụ thể gắn liền với đặc trưng vật chất của các loại sản phẩm. Do đó các sản phẩm có tính chất, đặc điểm khác nhau đòi hỏi các hoạt động logistics không giống nhau. Điều này cho phép các ngành hàng khác nhau có thể xây dựng các chương trình, các hoạt động đầu tư, hiện đại hóa hoạt động logistics theo đặc trưng riêng của loại sản phẩm tùy vào mức độ chuyên môn hóa, hình thành nên các hoạt động logistics đặc thù với các đối tượng hàng hóa khác nhau như:

Logistics hàng tiêu dùng nhanh (Fast moving consumer goods – FMCG): là loại hình logistics áp dụng đối với những mặt hàng có thời hạn sử dụng ngắn ngày như thực phẩm, quần áo, giày dép. Đối với những mặt hàng này thì yêu cầu quan trọng nhất là đảm bảo thời gian giao hàng.

Logistics ngành ô tô (Automotive logistics) đảm bảo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà máy, bộ phận sản xuất, các chi tiết, phụ tùng riêng lẻ sao cho thời điểm cuối của công đạon này là thời điểm đầu của công đoạn tiếp theo. Một khâu đặc biệt quan trọng trong loại hình logistics này là việc dự trữ và phân phối phụ tùng thay thế.

Ngoài ra, còn có logistics của nhiều ngành khác như logistics ngành hóa chất (Chemical logistics), logistics ngành dầu khí (Petroleum logistics), logistics hàng nông sản, logistics công nghiệp xây dựng…

e/ Theo tính chất chuyên môn hóa của các doanh nghiệp logistics

Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải gồm: các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn phương thức; các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức; các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng; các công ty môi giới vận tải.

Các công ty cung cấp dịch vụ hàng hóa, gồm các công ty môi giới thuế hải quan, các công ty giao nhận, gom hàng lẻ, các công ty chuyên ngành hàng nguy hiểm; các công ty dịch vụ đóng gói vận chuyển.

Các công ty cung cấp dịch vụ logistics chuyên ngành: gồm các công ty công nghệ thông tin, các công ty viễn thông, các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm, các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo.

f/ Theo khả năng tài chính của các công ty cung cấp dịch vụ logistics

Các công ty sở hữu tài sản thực sự có riêng đội vận tải, nhà kho và sử dụng chúng để quản lý tất cả hay một phần các hoạt động logistics cho khách hàng của mình.

Các công ty logistics không sở hữu tài sản hoạt động như người hợp nhất các dịch vụ logistics và phần lớn các dịch vụ là đi thuê ngoài. Họ có thể đi thuê phương tiện vận tải, nhà kho, bến bãi. Hiện nay có rất nhiều loại hình dịch vụ logistics nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng khác nhau của các ngành hàng khác nhau. Khác với trước đây, không chỉ các dịch vụ logistics cơ bản như vận tải và kho vận mà các loại dịch vụ phức tạp và đa dạng khác cũng xuất hiện. Việc thuê ngoài các dịch vụ logistics gọi theo thuật ngữ chuyên ngành là Logistics Outsourcing.

Ngoài các tiêu thức phân loại trên, người ta có thể phân chia logistics thành logistics toàn cầu (Global logistics), logistics quốc gia (National logistics) và logistics Thành phố (City logistics) hoặc logistics tổng thể và logistics chuyên ngành hẹp.

3/ Khái niệm và phân loại dịch vụ Logistics

3.1/ Khái niệm dịch vụ Logistics

Dịch vụ là một loại hình hoạt động kinh tế, tuy không đem lại sản phẩm cụ thể như hàng hóa, nhưng là một hoạt động kinh tế nên cũng có người bán (người cung cấp dịch vụ) và người mua (khách hàng sử dụng dịch vụ). Sản phẩm dịch vụ có tính vô hình, không thể tách rời giữa cung và cầu dịch vụ, có tính không ổn định và không lưu giữ trong kho được, không có chuyển quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động logistics ngày càng phổ biến và phát triển ngày càng phong phú với các hoạt động dịch vụ như: vận tải, lưu kho, gom hàng, đóng gói bao bì, dán nhãn, lắp ghép, cung cấp, thu hồi, hỗ trợ tài chính…

Theo điều 233, Luật Thương mại 2005: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stic”.

3.2/ Phân loại dịch vụ Logistics

Theo điều 4, Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 9/5/2007 quy định dịch vụ logistics thường phân chia thành 3 nhóm:

a/ Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm:

+ Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container.

+ Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị.

+ Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa.

+ Dịch vụ hỗ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container.

b/ Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:

+ Dịch vụ vận tải đường biển

+ Dịch vụ vận tải đường thủy nội địa

+ Dịch vụ vận tải đường hàng không

+ Dịch vụ vận tải đường sắt

+ Dịch vụ vận tải đường bộ

+ Dịch vụ vận tải đường ống

c/ Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm:

+ Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật

+ Dịch vụ bưu chính

+ Dịch vụ thương mại bán buôn

+ Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng.

+ Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.

Tóm lại, logistics là ngành dịch vụ hậu cần. Dịch vụ logistics là sản phẩm của doanh nghiệp logistics. Dịch vụ logistics rất đa dạng và liên quan đến nhiều ngành khác nhau. Sản phẩm của dịch vụ logistics chính là sự gia tăng về giá trị của đối tượng phục vụ qua mỗi công đoạn của dịch vụ logistics. Sự thành công của ngành logistics chắc chắn sẽ phụ thuộc vào rất nhiều ngành nghề khác nhau của nền kinh tế quốc dân.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s