Kinh tế học 2.0 – Phần cuối


Giới thiệu về phép ẩn dụ phần cứng/phần mềm

Nền kinh tế giống với máy tính (computer) như thế nào?

Cả nền kinh tế và máy tính đều cho phép chúng ta tận hưởng nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn với ít nỗ lực hơn, mặc dù không phải thỉnh thoảng không có những thất vọng và trục trặc.

Cả hai đều cho thấy sự cải thiện theo cấp số nhân. Bạn sẽ không muốn đổi một máy tính được sản xuất ba năm trước để lấy một máy tính được sản xuất cách đây hai mươi năm! Bạn cũng không muốn đánh đổi nền kinh tế hiện nay với nền kinh tế của một trăm năm trước.

(Đã có lúc các nhà kinh tế học xem thị trường là một cơ chế xử lý thông tin. Tuy nhiên, đây không phải là một ý tưởng được theo đuổi hoặc giả định ở đây).

Chúng tôi nhấn mạnh một sự khác biệt quan trọng giữa máy tính và nền kinh tế. Máy tính là sảm phẩm của thiết kế có ý thức, nhưng nền kinh tế thì không. Một nền kinh tế xuất hiện từ những hành động tự phát phi tập trung của các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ, cũng như quy hoạch có tổ chức của các tập đoàn lớn và Chính phủ. Theo thuật ngữ của Friedrich Hayek, nền kinh tế là một trật tự tự phát (spontaneous order).

Các yếu tố truyền thống của sản xuất – lao động, đất đai, và tài nguyên thiên nhiên – giống với phần cứng như thế nào?

Cả hai đều có thể nhìn thấy và định lượng được. Chúng ta có thể đo đếm số giờ làm việc, diện tích đất, và nguồn cung nước ngọt, kim cương hoặc dầu mỏ trong lòng đất. Tương tự, người ta cũng có thể định lượng tốc độ và dung lượng lưu trữ của các thành phần phần cứng của máy tính.

Cả hai đều được các nhà kinh tế học gọi là các yếu tố cạnh tranh. Nếu tôi sử dụng đất để xây tòa nhà văn phòng, thì sau đó bạn không thể sử dụng nó để xây trang trại. Nếu tôi sử dụng một máy tính tiền cho một cửa hàng quần áo, thì bạn không thể sử dụng nó cho một hiệu sách. Nếu tôi đang sử dụng một thành phần phần cứng của máy tính, ví dụ như bàn phím, thì bạn không thể sử dụng nó!

Gia tăng sản lượng bằng các yếu tố sản xuất truyền thống nghĩa là “làm nhiều hơn với nhiều nguyên liệu đầu vào hơn”. Điều đó có nghĩa là bạn thêm nhiều lao động, vốn và nhiều đất đai, hoặc nhiều máy tính hơn. “Làm nhiều hơn với nhiều nguyên liệu đầu vào hơn” phụ thuộc vào quy luật lợi tức giảm dần: bạn không thể tăng gấp đôi lượng dâu thu hoạch được bằng cách nhân đôi số lượng người hái dâu. Tương tự, việc gia tăng các hoạt động của máy tính với phần cững nghĩa là tăng thêm bộ nhớ hoặc khả năng lưu trữ.

Các công thức (ý tưởng, sáng kiến đổi mới…) giống với phần mềm như thế nào?

Cả hai đều vô hình và khó định lượng. Việc đếm số bằng sáng chế được phát hành trong một năm hoặc số dòng mã trong phần mềm là khả thi, nhưng không mang lại nhiều thông tin.

Cả hai đều không có tính đối nghịch hay cạnh tranh. Việc đã có một người sử dụng bảng tính (spreadsheet) không ngăn cản người khác cũng sử dụng bảng tính. Nếu một công ty sử dụng hệ thống kiểm soát hàng tồn kho hiệu quả thì cũng không ngăn cản một công ty khác sử dụng cách tiếp cận tương tự. Trên thực tế, theo các nhà nghiên cứu như William Lewis, việc kiểm soát hàng tồn kho tốt hơn của nhiều công ty trong lĩnh vực bán lẻ góp phần giải thích sự gia tăng năng suất mà Mỹ đạt được trong các thập niên gần đây, điều đó đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế.

Sản lượng gia tăng do các công thức tốt hơn nghĩa là “làm ra nhiều hơn với ít nguyên liệu đầu vào hơn”. Một công thức tốt hơn cho phép công ty gia tăng giá trị và giảm chi phí cho sản phẩm hoặc dịch vụ của mình. Quy luật “Làm ra nhiều hơn với ít nguyên liệu đầu vào hơn giải thích việc tăng trưởng kinh tế tiếp tục tăng nhanh như thế nào, bất chấp quy luật hiệu suất giảm dần. Một phần mềm máy tính tốt hơn sẽ giúp sử dụng một cách hiệu quả hơn nguồn tài nguyên của máy tính, cũng như thời gian và nỗ lực của những người tương tác với chương trình.

Cả công thức và phần mềm đều tốn kém để sản xuất, nhưng gần như không tốn kém để tái sản xuất. Việc thực nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng để phát triển một liệu pháp y khoa có giá trị mất rất nhiều nguồn lực, nhưng việc sản xuất thuốc hoặc quản lý một phương pháp điều trị mới lại có chi phí tương đối thấp. Tương tự, việc phát triển một giải pháp hay ứng dụng phần mềm mới có thể mất nhiều năm nỗ lực. Tuy nhiên, chi phí phân phối và đào tạo người dùng mới lại khá thấp

Cả việc phát triển phần mềm và tạo ra công thức đều hưởng lợi từ những ý tưởng đổi mới được áp dụng rộng rãi. Ví dụ như đến thập niên 1980, mỗi ứng dụng máy tính đều sử dụng chương trình riêng của mình để quản lý dữ liệu. Trên thực tế, điều này đã khiến các lập trình viên phải “tái phát minh ra những gì đã có” Cuối cùng, dần dần các chương trình cơ sở dữ liệu đồng nhất đã xuất hiện và được mọi người sử dụng. Điều này đã giải phóng các lập trình viên máy tính, từ đó họ viết nhiều ứng dụng cụ thể hơn, mang lại hiệu quả rộng rãi hơn. Trong lịch sử kinh tế, động cơ điện, động cơ đốt trong, máy tính cá nhân, và Internet đều là các “công nghệ có mục đích đại chúng”. Chúng được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, dẫn đến việc gia tăng mạnh về năng suất lao động.

Luật pháp, quy định, thỏa thuận bằng văn bản và các thỏa thuận ngầm giống với một hệ điều hành như thế nào?

Cả hai đều vô hình và khó đánh giá khách quan. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng xây dựng các chỉ số đo lường mức độ tham nhũng hoặc độ khó trong việc có được giấy phép kinh doanh. Nhưng các chỉ số đó có rất nhiều vấn đề và không đầy đủ.

Cả hai đều không có tính cạnh tranh. Khi một công dân hưởng lợi từ sự tôn trọng của xã hội đối với tài sản cá nhân, đạo đức làm việc tốt và Chính phủ trung thực, thì cũng không có gì ngăn cản các cơ chế này tạo ra lợi ích cho một công dân khác!

Cả hai đều khó sửa chữa khi không hoạt động bình thường. “Lỗi” của một phần mềm máy tính rõ ràng là rất khó định vị, và khó khắc phục. Tương tự, rất khó để “gỡ lỗi” (debug) các nền kinh tế đang vận hành thiếu hiệu quả tại các nước kém phát triển. Mãi cho đến rất gần đây, hầu hết các chuyên gia phát triển thậm chí còn không tìm kiếm lỗi trong tầng phần mềm. Thay vào đó, họ tập trung vào phần cứng – đặc biệt là vốn.

Cả hai đều khó chuyển đổi từ một thực thể này sang một thực thể khác. Khi hai tổ chức, ví dụ như ngân hàng, hợp nhất thành một tổ chức, cuối cùng họ đều cần phải kết hợp hai hệ thống phần mềm thành một hệ thống duy nhất. Thông thường, điều này rất tốn kém. Việc này sẽ đặc biệt khó khăn nếu một công ty sử dụng hệ điều hành Microsoft, còn côn gty kia sử dụng Apple hoặc Linux!

Mỗi người có thể ngây thơ giả định rằng sau khi sáp nhập, tất cả những gì người điều hành phải làm là lựa chọn hệ thống của một công ty (bên chiến thắng) và chuyển đổi phần mềm của công ty khác (bên thua cuộc) vào hệ thống đó. Tuy nhiên, trên thực tế, việc chuyển đổi này không hề dễ dàng. Phần mềm đã được sử dụng trong một thời gian dài xu hướng có nhiều bản vá lỗi và các tính năng đặc trưng, phản ánh sự phát triển của thực tiễn kinh doanh vượt xa những gì được dự báo vào thời điểm thiết kế hệ thống lần đầu tiên. Sẽ luôn có các cấu trúc dữ liệu và các phần mã có vẻ thích hợp khi lần đầu vận hành hệ thống, nhưng dần dần đã không còn lý do để tồn tại nữa. Khi thực hiện một sự chuyển đổi, bạn sẽ thấy rằng có một số tính năng riêng biệt của bên thua cuộc đã ăn sâu đến mức chúng phải được mang theo sang hệ thống mới. Ngược lại, một số tính năng của hệ thống bên chiến thắng lại có thể không phù hợp khi áp dụng vào việc kinh doanh của bên thua cuộc.

Một cách tương tự, các chính sách quy định có hiệu quả trong môi trường văn hóa này lại có thể gây cản trở ở nơi khác. Một hệ điều hành cho máy tính này cũng sẽ hoạt động trên một máy tính tương tự, nhưng các quốc gia không có cùng mức độ tương đương như vậy.

Ngay cả khi một nước kém phát triển muốn áp dụng hệ điều hành của một quốc gia thành công, người ta cũng không rõ việc áp dụng phải được thực hiện như thế nào. Ví dụ, có thể mô hình giám sát và điều tiết hệ thống ngân hàng của Mỹ là một điều tốt để làm theo. Nhưng chính sách trợ giá nông nghiệp của Mỹ có xứng đáng được bắt chước không? Còn chính sách trợ giá thị trường nhà ở? Các quy định về viễn thông? Và cách tiếp cận của Mỹ đối với các quy định chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm?

Sự sáp nhập giữa Đông Đức và Tây Đức minh họa cho khó khăn trong việc thay đổi hệ điều hành. Mức lương của Đông Đức được chuyển sang Tây Đức theo tỷ lệ 1:1, điều này có nghĩa là mức lương của Đông Đức cao hơn rất nhiều so với năng suất. Khi cấu trúc lương này được củng cố bởi thể chế Công đoàn mạnh mẽ, đã dẫn tới sự rối loạn lớn và thất nghiệp ở Đông Đức.

Nhưng việc sử dụng phép ẩn dụng phần cứng – phần mềm lại không hữu ích trong việc mô tả vai trò của giáo dục. Từ quan điểm phần cứng – phần mềm, những kiến thức tích lũy có thể truy cập ở bất kỳ thời điểm nào – những gì bạn có thể tìm thấy trong thư viện hoặc trên Internet – được xem là phần mềm. Tuy nhiên, các kỹ năng và kiến thức của một cá nhân cụ thể có thể được phân loại là phần cứng. Sự thật là các kỹ năng và kiến thức là vô hình và khó định lượng được. Nhưng kinh nghiệm của một bác sĩ phẫu thuật não chỉ có thể có lợi cho một bệnh nhân tại một thời điểm, do đó, sự hiểu biết hay bí quyết của bác sĩ – các nhà kinh tế gọi đây là “vốn nhân lực” – thì có tính cạnh tranh. Ngoài ra, việc tăng sản lượng nhờ sự hiểu biết có nghĩa là “làm nhiều hơn với nhiều nguyên liệu hơn”. Mọi người cần thêm nhiều hoạt động đào tạo chính thức hoặc vừa học vừa làm để phát triển vốn nhân lực. Về mặt kinh tế, để có được vốn nhân lực, chúng ta phải chịu chi phí cơ hội – bạn phải bỏ ra thời gian và tài nguyên để nâng cao kỹ năng.

Theo phép ẩn dụ, có vẻ như bí quyết cá nhân (individual know-how) là phần mềm. Trên hết, nó không thuộc về thể chất. Ngân hàng Thế giới bao gồm nó trong phương pháp tính nguồn vốn vô hình. Tuy nhiên, về mặt kinh tế, quá trình thu nhận kỹ năng giống như xây dựng phần cứng. Vì vậy, đối với giáo dục cá nhân và việc thu nhận kỹ năng, phép ẩn dụ về vốn nhân lực có thể thích hợp hơn so với phép ẩn dụ phần mềm.

Trong nhiều năm, các nhà kinh tế học đã không giải thích thỏa đáng cách thế giới vận hành như thế nào. Đây không phải là lỗi của họ; vì nói chung họ làm việc với những công cụ tốt nhất có được. Ngay cả đến hôm nay, sự hiểu biết của chúng ta về cách hoạt động của các nền kinh tế hiện đại –  và bằng cách nào và tại sao một số nền kinh tế không có hiệu quả – vẫn còn chưa hoàn chỉnh.

Nhưng chúng tôi tin rằng khi bắt đầu nhìn thế giới thông qua lăng kính của Kinh tế học 2.0, bạn sẽ có được sự hiểu biết sâu sắc và thấu đáo về thế giới xung quanh. Chúng tôi tin rằng điều đó có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ của bạn về kinh doanh và công nghệ, cũng như cách tiếp cận của bạn đối với chính trị và chính sách. Nhưng trên hết, chúng tôi nghĩ rằng phần lớn những gì khiến bạn thích thú là một cuộc hành trình thú vị của việc khám phá tri thức.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling & Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s