Nguồn cơn khiến công nhân tại các doanh nghiệp Trung Quốc ở Việt Nam đình công


Trang web China Labor Bulletin của tổ chức phi chính phủ trụ sở ở Hong Kong ngày 11/11 cho rằng các yếu tố như lương thấp, điều kiện làm việc kém và lạm dụng lao động đang tồn tại ở nhiều doanh nghiệp Trung Quốc hoạt động tại Việt Nam đã làm bùng phát những cuộc đình công và biểu tình của công nhân. Vấn đề này không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp Trung Quốc mà còn là vấn đề chung của các doanh nghiệp trên khắp Việt Nam, bất kể chủ sở hữu là người nước nào.

Khi chi phí lao động ở Trung Quốc bắt đầu tăng vào đầu những năm 2010, nhiều nhà sản xuất Trung Quốc và nước ngoài, đặc biệt là trong ngành may mặc và giày dép, đã tìm cách chuyển cơ sở sản xuất sang các nước Đông Nam Á như Việt Nam với hy vọng nhân rộng được mô hình sản xuất chi phí thấp và thâm dụng lao động, nhờ đó tạo ra lợi nhuận lớn cho các công ty này trong hơn 2 thập kỷ qua. Tuy nhiên, cũng giống như ở Trung Quốc, công nhân Việt Nam thường phản ứng khi bị lạm dụng bằng các cuộc đình công và biểu tình tập thể.

Đầu tháng 3/2019, đã xảy ra cuộc đình công kéo dài 5 ngày tại Lu An, một nhà máy may mặc của Trung Quốc – Thái Lan sử dụng khoảng 1500 công nhân ở tỉnh An Giang. Công nhân đình công vì bức xúc về điều kiện làm việc, vấn đề tiền lương, tiền thưởng, chế độ ngày nghỉ… Lúc đỉnh điểm, có tới khoảng 1400 công nhân tham gia cuộc đình công, nghĩa là chỉ có 100 người đi làm.

Tháng 5/2019, một tòa án phúc thẩm ở tỉnh Long An ra phán quyết liên quan đến cuộc đình công tại nhà máy của Công ty TNHH Giày Hùng Nghiệp thuộc sở hữu của Trung Quốc vào tháng 8/2017. Cuối năm 2018, một tòa án huyện ra phán quyết công ty Giày Hùng Nghiệp đã sa thải bất hợp pháp 9 công nhân vì tham gia cuộc đình công kéo dài nửa ngày, trong đó có 28 công nhân yêu cầu công ty trả tiền làm thêm giờ và tiền thưởng. Tòa án ra phán quyết công ty phải bồi thường cho công nhân. Công ty kháng cáo. Ngày 22/5/2019, tòa án tỉnh Long An xét xử phúc thẩm vụ việc, bác phán quyết của tòa sơ thẩm với lý do các công nhân đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với công ty, gây rối và đe dọa sự an toàn của các công nhân và nhà đầu tư khác.

Tháng 9/2019, công nhân xây dựng trong dự án Đại Phước Lotus ở phía nam tỉnh Đồng Nai đình công trong khoảng 1 tuần, yêu cầu chủ doanh nghiệp thanh toán 3 tháng nợ lương, tổng cộng khoảng 2 tỷ VND. Nhà đầu tư dự án là Công ty CP Vina Đại Phước, nhà thầu chính là Công ty TNHH Xây dựng Trung Quốc (công ty con tại Việt Nam của Tập đoàn Kỹ thuật Xây dựng Nhà nước Trung Quốc (CSCEC)), nhà thầu phụ là Công ty TNHH Minh Hùng. Các công nhân treo biểu ngữ bên ngoài công trường và một số công nhân dựng trại bên ngoài cổng công trường. Cuối cùng, nhà thầu chính đã đồng ý tạm ứng 1 tỷ đồng cho Công ty TNHH Minh Hùng để giúp họ trả lương cho công nhân.

Tháng 10/2019, hơn 100 công nhân tại Golden Victory, một nhà máy giày thuộc sở hữu của Trung Quốc sử dụng khoảng 7.000 công nhân ở tỉnh Nam Định, đã phải nhập viện với biểu hiện khó thở, chóng mặt và buồn nôn vì hít phải các chất thải độc hại. Nhà máy tạm thời đóng cửa để điều tra, song khi các công nhân trở lại làm việc vào ngày 23/10, nhiều người lại cảm thấy chóng mặt và buồn nôn và 20 người phải nhập viện. Do lo sợ, hàng trăm công nhân khác đã bỏ việc.

Lương thấp, giờ làm việc kéo dài và điều kiện làm việc tồi tệ là đặc điểm chung trong một số ngành công nghiệp, bất kể chủ sở hữu doanh nghiệp là ai. Theo báo cáo, ngoài Trung Quốc, tại các doanh nghiệp Hàn Quốc và Đài Loan cũng xảy ra nhiều cuộc đình công.

Tâm lý “bài Hoa” mạnh mẽ và âm ỉ lâu nay ở Việt Nam chắc chắn là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc đình công và biểu tình. Năm 2014, căng thẳng tại Biển Đông đã châm ngòi cho bạo loạn tại các nhà máy trên khắp cả nước. Năm 2018, kế hoạch thành lập 3 đặc khu kinh tế bị quy là hành vi “bán đất” cho Trung Quốc đã dẫn đến các cuộc biểu tình và đình công lan rộng trên đường phố. Ngoài ra, hiện cũng có những quan ngại về sự hiện diện của công nhân Trung Quốc không có giấy tờ, đặc biệt là công nhân trong các dự án xây dựng thuộc sở hữu của Trung Quốc tại Việt Nam. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng cho thấy điều kiện làm việc và quyền của người lao động tại các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Trung Quốc khác biệt nhiều so với các doanh nghiệp nước ngoài khác tại Việt Nam.

Nguồn: TKNB – 13/11/2019

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s