Cuộc chiến giành tiêu chuẩn Internet – Phần cuối


Trong năm kinh doanh 1997 – 1998, Microsoft đã thu được lợi nhuận 4 tỷ USD trên tổng doanh thu 14 tỷ USD. Họ đã chi 2,5 tỷ USD lợi nhuận cho việc phát triển những sản phẩm mới. Đó là lượng tiền lớn hơn tổng số lợi nhuận của 10 doanh nghiệp phần mềm đứng kế tiếp cộng lại. Những gì Microsoft chưa thể phát triển kịp thì nó mua lại của các công ty khác. Trong hai năm 1996 và 1997, Microsoft đã mua một phần hoặc hoàn toàn không dưới 37 doanh nghiệp trẻ đang lên. Tháng 4/1997, nó đã mua công ty mới khởi nghiệp Web-TV với giá 425 triệu USD. Công ty này đã phát triển được một công nghệ mới có thể truy cập vào Internet qua các máy thu truyền hình. Tháng 7/1998, nó đã chiếm được 10% công ty Progressive Networks. Công ty này có công nghệ truyền được tín hiệu âm thanh và hình ảnh qua trang Web. Bằng việc đầu tư 1 tỷ USD vào hãng truyền hình cáp lớn thứ ba là Comcast, Microsoft đã nhảy vào ngành công nghiệp cáp truyền hình, tạo tiền đề cho việc cạnh tranh về các hệ thống phần mềm cho các hộp Settop.

Bằng tài sản riêng, Bill Gates đã tài trợ cho Corbis là hãng của riêng Bill Gates để lặng lẽ xây dựng hãng này trở thành kho lưu trữ ảnh kỹ thuật số lớn nhất thế giới. Ông muốn giành quyền lưu trữ một cách có hệ thống các công trình nghệ thuật chuyển sang tín hiệu số. Hiện nay, kho lưu trữ của Corbis đã chiếm giữ quyền lưu trữ các công trình nghệ thuật của Viện Bảo tàng tranh quốc gia London, Viện bảo tàng nghệ thuật của Philadelphia và Viện bảo tàng Eremitage của Saint Petersburg. Cuối năm 1995, Gates đã mua được Bettmann Archives. Đó là kho lưu trữ ảnh tư nhân lớn nhất thế giới với 16 triệu bức ảnh. Có tầm nhìn xa trông rộng, Bill Gates đã lo xa về nội dung của xã hội thông tin sau này. Trong xã hội đó, quyền lực thị trường sẽ rơi vào tay kẻ nào chiếm giữ được nội dung này. Theo tờ tạp chí Interactive Age đánh giá, ngay từ bây giờ Gates đã kiểm soát được ¾ thương mại thế giới về bản quyền các bức ảnh kỹ thuật số.

Cũng bằng tài sản riêng, Bill Gates đã tham gia đầu tư vào hãng Teledesic. Hãng này đang theo đuổi dự án 10 tỷ USD cho một mạng điện thoại di động trên khoảng không vũ trụ. 288 vệ tinh bay vòng quanh trái đất với độ cao không lớn để tạo lập được kết nối băng thông rộng với mạng Internet từ khắp nơi trên trái đất. Đối tác quan trọng khác của dự án này là Craig McCaw. Tập đoàn này có tài sản hàng tỷ USD thông qua việc thiết kế và bán mạng điện thoại di động lớn nhất nước Mỹ. Ngoài ra còn có tập đoàn hàng không và vũ trụ Boeing cũng như tập đoàn điện tử và điện thoại di động Motorola.

Joel Klein chống Bill Gates

Microsoft đang ở thế thượng phong trên mọi mặt trận của thế giới Internet. Nó thống trị tiêu chuẩn phần mềm của gần 250 triệu máy PC đang được sử dụng trên toàn thế giới, tính đến đầu năm 1998. Và nó sử dụng sự độc quyền này để bành trướng vương quốc của mình một cách có hệ thống sang các thị trường khác. Đó là mạng nội bộ của các doanh nghiệp (Windows NT), sự đa dạng của các máy thông tin và liên lạc mới cho tiêu dùng tư nhân (Window CE) và các loại dịch vụ trên bản thân mạng Internet.

Chỉ có một cách có thể chặn đứng được Microsoft, đó là tòa án chống độc quyền. Và điều này đã thực sự xảy ra vào ngày 18/05/1998. Hôm đó Joel Klein, Giám đốc Cơ quan Chống độc quyền của Bộ Tư pháp Mỹ, đưa đơn kiện Microsoft tại môt tòa án ở Washington vì những vi phạm Bộ Luật chống độc quyền Sherman (Sherman Antitrust Act). Các công tố viên của 20 tiểu bang cùng tham gia ủng hộ vụ kiện. Lời buộc tội có nội dung: Microsoft đã tận dụng sự độc quyền về hệ điều hành PC để thâm nhập vào các thị trường khác và đã dùng phương pháp không hợp pháp để xóa bỏ đối thủ cạnh tranh như Netscape chẳng hạn.

Ngay từ đầu Joel Klein đã đưa ra hai đề nghị bắt buộc trước mắt. Đề nghị thứ nhất đòi Microsoft phải rút bỏ phần mềm Internet Explorer cài đặt thêm vào Windows 98, hoặc chấp nhận đưa thêm phần mềm Netscape Navigator vào hệ điều hành. Lúc đó tùy theo nguyện vọng của khách hàng, các nhà sản xuất máy PC có thể loại bỏ một trong hai phần mềm truy cập ra khỏi hệ điều hành. Đề nghị thứ hai đòi Microsoft phải bỏ “hình ảnh đầu tiên” tức là hình ảnh đầu tiên xuất hiện trên màn hình khi bật máy rồi sau đó người sử dụng mới chọn chương trình mình cần. Đây là yếu tố đã làm cho “hình ảnh đầu tiên” trở thành mảnh đất màu mỡ trong Cyberspace. Trong tất cả các máy PC dùng Windows, hình ảnh đầu tiên hiện lên là biểu tượng phần mềm truy cập Explorer của Microsoft cũng như của các đồng minh của tập đoàn này, chẳng hạn như biểu tượng của dịch vụ tin tức truyền hình MS-NBC, nhưng không có chỗ cho dịch vụ cạnh tranh của ABC. Joel Klein đề nghị, trong tương lai các nhà sản xuất máy PC sẽ quyết định hình ảnh đầu tiên xuất hiện trên màn hình vi tính, chứ không phải hãng độc quyền Microsoft.

Đơn yêu cầu thực hiện những việc này bị tòa án bác bỏ. Windows 98 với phần mềm Internet Explorer kèm theo vẫn được tung ra thị trường vào ngày 25/6/1998. Nhưng vấn đề quan trọng nhất thì bên tố cáo lại thành công. Đơn của Microsoft đòi dời phiên tòa đến tháng 1/1999 bị tòa bác bỏ. Ngày 8/9/1998, phiên tòa lớn đầu tiên trong thời đại Internet về chống độc quyền đã diễn ra. Người ta có thể so sánh phiên tòa này với những phiên tòa trong thời đại công nghiệp. Đó là phiên tòa xử John D. Rockerfellers Standard Oil (1906 – 1911), IBM (1969 -1982) và AT&T (1974 – 1982). Phiên tòa này lan sang những đề tài khác, đặc biệt là việc điều tra chống độc quyền đối với Windows NT-5. Phiên tòa này sẽ kéo dài rất lâu. Bill Gates cố gắng kéo dài phiên tòa càng lâu càng tốt. Giới quan sát cho rằng, Microsoft sẽ chi vào phiên tòa hàng nghìn tỷ USD.

Những đối thủ của Microsoft như Sun, Netscape, Oracle và luật sư đại diện của Hiệp hội người tiêu dùng Ralph Nader biện luận rằng, những điều tiết mang tính chỉ đạo như vậy không giải quyết được vấn đề. Vấn đề độc quyền của Microsoft là một vấn đề thuộc về cấu trúc. Nó chỉ có thể được giải quyết nếu tòa có những biện pháp can thiệp vào cơ cấu của doanh nghiệp này. Họ yêu cầu Microsoft phải bị chia làm hai, một hãng chuyên về hệ điều hành và một hãng chuyên về phần mềm ứng dụng. Lúc đó Bill Gates phải quyết định nên chọn giữ lại cái nào.

Bộ Tư pháp Mỹ đứng trước một vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Tiền đề không phải là chuyện Microsoft lợi dụng sự độc quyền của mình để tăng giá, mặc dù giá cả thực sự của các hệ điều hành Windows mới sau đó có tăng (tất nhiên là nó đã được mở rộng thêm nhiều chức năng khác). Trong khi đó, giá của các máy tính khác trên thị trường giảm xuống trên nguyên tắc. Cái nguy cơ thực sự của sự độc quyền mới nằm ở chỗ khác. Một doanh nghiệp vượt trội với sự độc quyền của nó trong công nghệ thông tin sẽ ngăn cản sự phát triển của những công ty mới như Netscape chẳng hạn, và như vậy sẽ bóp nghẹt toàn bộ sự đổi mới của nền kinh tế. Sự đổi mới chính là động lực của nền kinh tế Mỹ, nhà nước phải bảo đảm sức sáng tạo trong nền kinh tế có thể phát triển một cách toàn diện nhất. Mặt khác, Nhà nước Mỹ không thể dùng các biện pháp để chặn bước một doanh nghiệp đang thành công nhất chính vì những thành công của họ.

Dù kết quả cuối cùng của phiên tòa chống độc quyền như thế nào, ngay cả khi sự bành trướng về cơ bản không bị yếu tố nào cản trở thì trong kỷ nguyên Internet, Microsoft cũng không thể đạt được mức độ kiểm soát như IBM trong thời đại máy Mainframe, hay độc quyền Wintel trong thời đại máy PC. Bởi vì trong kỷ nguyên Internet, công nghiệp máy tính không thể đứng một mình ở vị trí trung tâm mà phải chia sẻ sự thống trị với những đối tác mạnh khác. Đó là các hãng điện thoại, các hãng truyền hình cáp, các tập đoàn điện tử giải trí lớn như Sony, Philips và không phải cuối cùng là các tập đoàn truyền thông đang thống trị về mặt nội dung. Tình thế mới này biểu hiện rõ từ đầu năm 1997. Lúc đó, Bill Gates đang tìm cách đạt được một hợp đồng độc quyền cung cấp 15 triệu thiết bị Settop – Boxen kỹ thuật số mà ngành công nghiệp cáp truyền hình yêu cầu. Nhưng họ đã không thành công. Ngành công nghiệp cáp truyền hình đã quyết định là họ sẽ tự xác định tiêu chuẩn của các Settop – Boxen trong tương lai. Họ chọn nhà sản xuất điện tử Next Level là đối tác để điều hành hệ thống và chia Settop – Boxen thành nhiều “bình diện” (bộ vi xử lý, hệ điều hành, phần mềm ứng dụng) và xác định các chức năng. Trên mỗi bình diện phải có nhiều công ty tham gia cung cấp các sản phẩm. Sau một thời gian dài quảng cáo, cuối cùng vào tháng 1/1998, Bill Gates mới nhuận được một hợp đồng 5 triệu bản copy hệ điều hành Windows CE trang bị cho thiết bị này. Giám đốc công ty TCI là John Malone, đồng thời là phát ngôn viên của ngành công nghiệp cáp, đã trao hợp đồng này một cách tượng trưng cho Microsoft chỉ sau khi ông đã ký với Sun Microsystems hợp đồng mua 5 triệu bản quyền copy phần mềm Java. Tuy ngành công nghiệp cáp phụ thuộc vào bí quyết sản xuất của ngành công nghiệp máy tính, nhưng họ làm chủ tuyến dẫn và kiên quyết giữ quyền kiểm soát truyền hình cáp và nối mạng Internet qua hệ thống cáp của họ. Sẽ không có một nhà cung cấp Settop – Boxen nào có thể đạt được tham vọng đưa ra quy định về tiêu chuẩn của thiết bị này và khống chế được thị trường này tương tự như cách mà độc quyền Wintel đã chiếm lĩnh thị trường máy PC.

Quyền lực của Microsoft trong thời đại Internet cũng sẽ rất lớn. Nhưng sự hòa nhập của bốn ngành công nghiệp chữ C để trở thành một ngành công nghiệp khổng lồ về thông tin, liên lạc, giải trí và truyền thông sẽ kìm chân Microsoft bởi những bên đối trọng khác trong bàn cờ, ngay cả khi không có những điều khoản về chống độc quyền.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Konrad Seitz – Cuộc chạy đua vào thế kỷ XXI – NXB CTQG 2004.

Advertisement

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s