Kể chuyện – Phần I


Bây giờ chúng ta sẽ có một vài câu hỏi nhanh.

Khi nói về ba nguyên nhân đưa chúng ta vào Thời đại Nhận thức, tôi có đưa ra một vài luận chứng để chứng minh quan điểm của mình. Hãy xem bạn có thể nhớ được bao nhiêu với hai câu hỏi sau:

Câu hỏi 1. Trong phần về châu Á, chúng ta biết rằng một lượng lớn công việc văn phòng đang được chuyển đến những nước như Ấn Độ, Trung Quốc và Philippines. Theo như nghiên cứu mà tôi đã trích dẫn, có bao nhiêu dollar trong tiền lương của người Mỹ được dự đoán sẽ chuyển đến những nơi có giá nhân công thấp trong 10 năm tới?

Câu hỏi 2. Trong phần Tự động hóa, chúng ta biết rằng những phần mềm thông minh đang làm biến đổi cơ cấu nghề nghiệp hoặc làm biến mất nhiều công việc của các công nhân tri thức ở phương Tây. Vậy ai sẽ là John Henry của Thời đại Nhận thức?

Nếu không có một trí nhớ hình ảnh tốt hoặc mối quan tâm đặc biệt với những đồng dollar đang biến mất trên nước Mỹ, có thể bạn sẽ không trả lời được câu hỏi 1 và trả lời được câu hỏi 2. Tại sao vậy? Trong câu thứ nhất, tôi muốn các bạn nhớ lại một thông tin còn với câu thứ hai tôi muốn các bạn nhớ lại một câu chuyện.

Việc chúng ta gặp khó khăn khi lục lại thông tin tách biệt và khá dễ dàng khi nhớ lại câu chuyện buồn của Garry Kasparov không phải là những dấu hiệu của kém thông minh hay căn bệnh mất trí nhớ Alzheimer. Chỉ đơn giản là chúng cho ta thấy cách thức ghi nhớ của bộ não. Những câu chuyện thường dễ nhớ hơn vì đó là những cách thức chúng ta ghi nhớ sự vật, hiện tượng trong nhiều trường hợp. Mark Turner, nhà khoa học nhận thức, viết trong cuốn The Literary Mind (Tư duy nguyên bản): “Chuyện kể mang tính tưởng tượng là những công cụ tư duy căn bản. Khả năng lập luận phụ thuộc vào điều này. Đó là phương tiện chính để chúng ta nhìn vào tương lai, là phương tiện suy đoán, lập kế hoạch và giải thích… Hầu hết những trải nghiệm, kiến thức và suy nghĩ của chúng ta được tổ chức dưới dạng câu chuyện”.

Kể chuyện là một phần trong những trải nghiệm của con người, cũng giống như thiết kế. Hãy nghĩ về anh chàng người tiền sử mà tôi đã đề cập. Anh ta mài đá để tạo nên những chiếc rìu và trở thành một nhà thiết kế. Khi chiều xuống, họ trở về nhà, ngồi xung quanh đống lửa và kể cho nhau nghe câu chuyện về những con hổ với hàm răng nhọn hoắt đã trốn thoát hoặc về việc sửa sang lại hang động của gia đình. Bộ não của họ, cũng giống như của chúng ta ngày nay, có phần “ngữ pháp kể chuyện” giúp họ hiểu được thế giới không phải là hệ thống nhận định logic mà là tập hợp kinh nghiệm. Người tiền sử tự lý giải bản thân và liên hệ mình với những người khác thông qua những câu chuyện.

Mặc dù câu chuyện đã cho thấy tầm quan trọng của nó trong lịch sử nhân loại cũng như vai trò trung tâm trong cách tư duy của con người nhưng trong Thời đại Thông tin, câu chuyện đôi khi lại là những nhận định không chính xác. Hollywood, Bollywood và các trung tâm giải trí khác tôn sùng câu chuyện. Thế nhưng, phần còn lại của xã hội xem câu chuyện giống như người em không đáng tin cậy của thông tin. Câu chuyện dùng để mua vui, còn thông tin giúp mở mang trí tuệ. Câu chuyện có tính hư cấu, thông tin thì rõ ràng. Câu chuyện để che giấu, thông tin thì chân thực. Có hai điều sai lầm trong quan điểm này. Thứ nhất, câu hỏi mà tôi đưa cho các bạn ở trên đã chỉ ra điều ngược lại, cách làm việc thật sự của bộ não chúng ta là như thế nào. Thứ hai, trong Thời đại Nhận thức, làm giảm tầm quan trọng của câu chuyện sẽ đẩy bạn vào những mối nguy hiểm cho bản thân cũng như trong công việc.

Trong quá khứ, tìm kiếm thông tin luôn là một công việc khó khăn. Sau đó, phần lớn dữ liệu và thông tin được chất lên những giá sách bụi bặm của thư viện, số còn lại thì nằm trong những cơ sở dữ liệu mà viện nghiên cứu là nơi duy nhất có nguồn ngân quỹ để trang trải và những chuyên gia được đào tạo chuyên sâu mới tiếp cận được. Thế nhưng ngày nay, thông tin có mặt khắp nơi, hầu như miễn phí và chúng hiện diện chỉ trong nháy mắt. Nếu muốn tìm hiểu thông tin về lượng tiền lương được chuyển qua châu Á, bạn có thể gõ một vài chữ vào trang Google và sau một vài giây, hãy nhìn lên màn hình xem điều gì xuất hiện. Điều có vẻ không tưởng cách đây 15 năm, giờ được coi là hết sức bình thường: một đứa trẻ 13 tuổi ở Zaire, thành thạo tiếng Anh, được kết nối Internet, giống như người thủ thư chính tại Đại học Cambridge, có thể nhanh chóng và dễ dàng tìm kiếm thông tin về nhiệt độ hiện thời ở Brussels, giá đóng cửa của cổ phiếu IBM hay tên của vị bộ trưởng tài chính thứ hai của ông Churchill. Điều này thật đáng mừng. Nhưng nó lại gây hậu quả to lớn đến cách sống và làm việc của chúng ta. Khi thông itn có mặt ở khắp mọi nơi và có thể truy cập bất cứ lúc nào thì nó bị giảm giá trị. Điều bắt đầu có ý nghĩa quan trọng hơn chính là khả năng đặt thông tin này vào trong ngữ cảnh và truyền đạt chúng với những tác động về mặt cảm xúc của con người.

Đó chính là bản chất của năng lực kể chuyện – ngữ cảnh được làm phong phú hơn nhờ cảm xúc.

Năng lực kể chuyện tồn tại khi khả năng nhận thức và cảm thụ có điểm chung với nhau. Kể chuyện thể hiện nhận thức tốt vì nó làm chúng ta hiểu rõ hơn một sự vật bằng cách đặt nó trong bối cảnh của một sự vật khác. Chẳng hạn, câu chuyện của John Henry giúp chúng ta hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra trong giai đoạn đầu của Thời đại Công nghiệp. Câu chuyện của Garry Kasparov sau đó đã liên hệ tới một ngữ cảnh mới. Nhờ vậy mà một ý tưởng phức tạp được truyền tải qua kể chuyện sẽ dễ nhớ và có ý nghĩa hơn bài thuyết trình chán ngắt trên PowerPoint về tự động hóa trong công việc. Năng lực kể chuyện thể hiện sự đồng cảm cao vì phần lớn câu chuện luôn chứa đựng tình cảm của người viết hoặc người kể. John Henry bỏ mạng, Kasparov bị hạ bệ. Nói cách khác, theo nhìn nhận của E.M. Foster, nếu thông tin là: “Hoàng hậu chết và nhà vua chết” thì câu chuyện sẽ là “Hoàng hậu qua đời và trái tim nhà vua tan vỡ trong đau khổ tột cùng”.

Trong cuốn Things That Makes Us Smart (Những điều giúp chúng ta trở nên thông minh), Don Norman tổng kết lại bản chất nhận thức và cảm thụ của năng lực kể chuyện như sau:

Câu chuyện có khả năng nắm bắt khéo léo và chính xác những nhân tố mà quá trình ra quyết định theo lối chính thống không chú ý tới. Lập luận logic cố gắng tổng quát hóa, tách quá trình ra quyết định khỏi hoàn cảnh cụ thể, không cho nó bị ảnh hưởng bởi các tình cảm chủ quan… Câu chuyện là những sự kiện nhận thức quan trọng vì nó gói gọn một cách cô đọng cả thông tin, kiến thức, bối cảnh và tình cảm.

Khả năng bao quát, thiết lập bối cảnh và khơi dậy cảm xúc đã trở nên quan trọng hơn trong Thời đại Nhận thức. Khi quá nhiều công việc bàn giấy quen thuộc có thể được tóm thành các quy tắc, luật lệ và được chuyển cho những máy tính tốc độ cao, những nhà tư duy thiên về bán cầu não trái thực hiện thì khả năng này càng khó đạt đến trong kể chuyện trở nên có giá trị hơn. Tương tự, càng nhiều người có cuộc sống vật chất dư thừa, chúng ta càng có cơ hội theo  đuổi cuộc sống ý nghĩa. Và những câu chuyện – chuyện kể về chúng ta, cho chúng ta – là phương tiện chúng ta sử dụng trong cuộc hành trình đó. Trong phần tiếp theo của bài này, tôi sẽ tập trung vào phân tích tại sao khả năng nhận thức và cảm thụ kết hợp các sự kiện thành một câu chuyện hấp dẫn lại trở thành năng lực cần thiết trong hoạt động kinh doanh, y tế và cuộc sống cá nhân.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Daniel H. Pink – Một tư duy hoàn toàn mới – NXB LĐ – XH 2008.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s