Nghịch lý tàn khốc đe dọa kinh tế Mỹ


Không ai biết nó sẽ kéo dài bao lâu hay gây tổn thương đến mức nào. Tuy nhiên, nền kinh tế Mỹ lần đầu tiên đang rơi vào suy thoái kể từ năm 2009, hoặc đã bị suy thoái – một nạn nhân bất ngờ của sự bùng phát virus Corona chủng mới (SARS-CoV-2).

Những thay đổi lớn được coi là cần thiết để đánh bại virus này – người dân và các công ty không còn gắn kết với nhau nữa – đang khiến công việc hàng ngày bị đình trệ và có khả năng giáng một đòn chí tử vào sự tăng trưởng kinh tế lâu nhất được ghi nhận trong lịch sử.

Mối tương tác giữa sự bùng  phát virus SARS-CoV-2 và các bước nhằm đánh bại nó cho thấy một nghịch lý tàn khốc: Nếu như đời sống kinh tế thường nhật ngừng hoạt động càng nhanh và đau đớn thì cuộc khủng hoảng y tế lại càng sớm có thể được giải quyết nhanh chóng và người dân cùng các doanh nghiệp có thể tự tin sớm trở lại cuộc sống bình thường. Ngược lại, một cuộc chiến kéo dài chống virus sẽ trì hoãn sự phục hồi kinh tế và gây nguy hiểm cho nhiều doanh nghiệp nhỏ.

Phần lớn cũng sẽ phụ thuộc vào cách giải quyết nhanh chóng và tích cực của Ngân hàng Dự trữ Liên bang (FED), Quốc hội và Chính quyền Trump trong việc cung cấp gói cứu trợ tài chính cho hàng chục triệu nạn nhân kinh tế – từ những người lao động theo giờ không còn có thu nhập cho đến các nhân viên bỗng nhiên phải xin nghỉ việc không lương cho đến các doanh nghiệp với những khoản vay phải trả nhưng không có khách hàng. Tuy nhiên, giải quyết cuộc khủng hoảng y tế bằng cách đóng cửa nền kinh tế sẽ phải được ưu tiên trước.

Greg Daco, nhà kinh tế trưởng của Mỹ tại Oxford Economics cho rằng: “Bạn càng muốn nhanh chóng kiểm soát và kiềm chế tốc độ lây lan của virus thì việc đóng cửa càng cấp bách và sự gián đoạn trong các hoạt động kinh tế càng nghiêm trọng. Hy vọng là, càng đóng cửa chặt hơn, sự phục hồi sẽ càng rõ hơn”.

Ông gọi đó là “Nghịch lý đóng cửa”. Ít nhất là trong ngắn hạn, Daco nhận thấy trước những tổn thương đối với nền kinh tế: Ông dự đoán kinh tế Mỹ sẽ “co lại” trong quý từ tháng 4 – 6/2020. Đó sẽ là quý ảm đạm nhất trong lịch sử kể từ năm 1947. Sau khi phục hồi vào nửa cuối năm nay, Daco cho rằng nền kinh tế sẽ đạt mức tăng trưởng 0% trong năm 2020 nói chung.

Các chuyên gia nhận định nền kinh tế đã giảm tốc độ với tốc độ choáng váng. Mỹ gần như không đơn độc: Theo các ước tính, châu Âu đang  tiếp tục suy thoái, được tăng tốc bởi tâm chấn dịch bệnh do virus SARS-CoV-2 ở Italy.

Tại Mỹ, làn sóng sa thải dường như không thể tránh khỏi, đặc biệt là trong các ngành dễ bị tổn thương nhất do sự ngừng trệ các hoạt động kinh tế: Du lịch, giải trí, khách sạn, nhà hàng, cửa hàng bán lẻ – trái tim của ngành dịch vụ, vốn chiếm phần lớn nền kinh tế Mỹ. Thất nghiệp chắc chắn sẽ tăng, có lẽ là mạnh trong những tháng tới. “Chúng ta đã rơi vào suy thoái” – Robin Brooks, nhà kinh tế trưởng tại Viện Tài chính Quốc tế, một hiệp hội các công ty tài chính, nhận định. Brooks cho rằng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ – thước đo sản lượng kinh tế lớn nhất – sẽ giảm ở mức 0,2%/năm trong quý từ tháng 1 – 3/2020 và sau đó là 3,6% trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6. Ngay cả Tổng thống Donald Trump cũng đã thừa nhận trong tuần này rằng Mỹ “có thể” đang hướng tới suy thoái.

Số liệu thống kê sẽ nắm bắt được thiệt hại kinh tế do virus SARS-CoV-2 gây ra và những nỗ lực ngăn chặn nó mới chỉ bắt đầu lộ diện. Hiện tại, Brooks lo ngại “tất cả những điều chúng ta không nhìn thấy: khoảng cách xã hội, sự cách ly và sự không chắc chắn chưa có trong dữ liệu cứng”. Bằng chứng ban đầu rất nghiêm túc: Chi nhánh Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York hôm 16/3 đã cảnh báo rằng hoạt động sản xuất tại bang New York đã giảm trong tháng này xuống mức thấp nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 2009.

Tốc độ virus bùng phát bên ngoài Trung Quốc và vươn khắp toàn cầu khiến các nhà dự báo mất cảnh giác. Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Jerome Powell hôm 15/3 cho biết FED thậm chí sẽ không bận tâm đưa ra dự báo kinh tế hàng quý thông thường trong tuần này. Quan điểm kinh tế của FED, xét cho cùng, phụ thuộc vào sự bùng phát virus SARS-CoV-2 tiến triển như thế nào, Powell thừa nhận với báo giới rằng “đó không phải là điều có thể biết trước được. Vì vậy, đưa ra một dự báo thực sự trong tình huống đó dường như không hữu ích”.

Ban đầu, các nhà kinh tế đã mong đợi ít nhiều lặp lại những gì đã xảy ra khi dịch SARS tấn công Trung Quốc và Đông Nam Á vào năm 2003: Thiệt hại trong thời gian ngắn, phần lớn bị cô lập ở Trung Quốc và Hong Kong, điều đó khiến Mỹ không mấy bị ảnh hưởng. Tỷ trọng kinh tế của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu lớn gấp 4 lần so với 17 năm trước. Họ hội nhập chặt chẽ hơn nhiều vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, vấn đề chính của nền kinh tế Mỹ lần này được cho là sự gián đoạn chuỗi cung ứng liên quan đến một số hàng nhập khẩu của Trung Quốc: iPhone sản xuất tại Trung Quốc, trứng Phục sinh và quần áo đi biển, trong số những mặt hàng khác, sẽ bị trì hoãn.

Tuy nhiên, sự lây lan nhanh chóng của virus và bệnh dịch mà nó gây ra, COVID-19, đã làm tăng mối đe dọa kinh tế đối với Mỹ. Đột nhiên, dịch bệnh bùng phát ở khắp mọi nơi.

Phản ứng với điều đó, nền kinh tế bắt đầu ngừng hoạt động khi người Mỹ tìm cách tự cô lập để tránh lây nhiễm. Các hãng hàng không hủy chuyến bay. NBA và NHL đã ngừng mùa giải của họ. Các nhà hàng fast-food đã đóng cửa và chỉ phục vụ giao hàng tận nhà hoặc mang đi. Người lao động tránh xa các văn phòng và chôn chân ở nhà thay vì tiêu tiền tại quán bar, nhà hàng, cửa hiệu, rạp chiếu phim.

Cùng với đó là giá dầu bắt đầu sụt giảm trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu đang suy yếu. Điều đó xảy ra đặc biệt là sau khi Nga và Saudi Arabia lảo đảo trong một cuộc chiến tranh dầu mỏ, từ chối hợp tác cắt giảm sản lượng để ổn định thị trường dầu mỏ. Giá dầu giảm mạnh đã đe dọa ngăn cản đầu tư của các công ty năng lượng Mỹ vốn góp phần vào tăng trưởng kinh tế.

Khi triển vọng kinh tế tối sầm lại, thị trường tài chính bắt đầu sụp đổ – cũng bị hạ gục bởi phản ứng ban đầu của Chính phủ Mỹ đối với cuộc khủng hoảng. Mặc dù có sự hồi phục mạnh hôm 18/3, chỉ số công nghiệp Dow Jones vẫn giảm hơn 28%, kể từ ngày 12/2/2020.

Sau một khởi đầu chậm chạp, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đang có những biện pháp mạnh để hạn chế thiệt hại. Hôm 15/3, FED đã hạ lãi suất cơ bản xuống gần bằng 0 và cho biết sẽ mua 700 tỷ USD trái phiếu để cố gắng giảm bớt sự gián đoạn thị trường tín dụng và giữ lãi suất dài hạn ở mức thấp. Hai ngày sau, FED lại thông báo sẽ thực hiện các bước để giảm bớt dòng tín dụng ngắn hạn mà các doanh nghiệp sử dụng cho bảng lương và các chi phí hàng ngày khác.

Thừa nhận mức độ nghiêm trọng của mối đe dọa, Chính quyền Trump đang ủng hộ gói kích thích khẩn cấp trị giá khoảng 850 tỷ USD, bao gồm gửi séc trực tiếp đến các hộ gia đình Mỹ để giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn này.

Liệu tất cả các biện pháp đó sẽ hữu hiệu?

Chuyên gia Zandi thuộc Moody’s Analytics nhận định tác động của nền kinh tế đối với sức khỏe không chỉ phụ thuộc vào những gì xảy ra với virus SARS-CoV-2 và cách phản ứng của các nhà hoạch định chính sách. Một điều cũng rất quan trọng là suy nghĩ của người tiêu dùng thông thường và các chủ doanh nghiệp, những người mà cuộc sống đã bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng y tế.

Zandi nói: “Phải mất bao lâu để các doanh nghiệp cảm thấy đủ tự tin để cho phép nhân viên của họ quay lại làm việc và để khách du lịch trở lại máy bay và du thuyền… liệu tâm lý tập thể có đoàn kết được với nhau không”.

Nguồn: TKNB – 24/03/2020.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s