Chống trợ cấp và chống bán phá giá – Phần II


d/ Những biện pháp tạm thời và hiệu lực truy thu.

Biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng sau khi kết luận điều tra sơ bộ khẳng định rằng có đầy đủ chứng cứ về trợ cấp và thiệt hại do nó gây ra. Biện pháp tạm thời có thể áp dụng bằng hình thức thuế chống trợ cấp tạm thời, được bảo đảm bằng tiền gửi hoặc giấy bảo lãnh tiền gửi tương đương với mức trợ cấp tạm tính. Thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời phải hết sức ngắn, không được quá 4 tháng.

Khi làm kết luận cuối cùng về thiệt hại thì thuế chống trợ cấp được tính truy thu cả những tháng áp dụng biện pháp tạm thời. Nếu thuế chống trợ cấp đã xác định cao hơn số tiền gửi hoặc cao hơn mức tiền trong giấy bảo lãnh tiền gửi thì không được thu số chênh lệch ấy, còn nếu thấp hơn thì phải trả lại phần vượt trội.

Nếu kết luận có nguy cơ gây thiệt hại hoặc cản trở công việc xây dựng ngành công nghiệp nào đó thì có thể đánh thuế chống trợ cấp bắt đầu từ ngày đưa ra kết luận ấy, nhanh chóng trả lại số tiền gửi và giấy bảo lãnh tiền gửi đã thu nhận trong thời kỳ áp dụng biện pháp tạm thời. Nếu kết luận cuối cùng là kết luận phủ định thì phải nhanh chóng trả lại tiền gửi và giấy bảo lãnh tiền gửi.

Trong trường hợp khẩn cấp, nếu đoán định rằng, trong một thời gian ngắn, một lượng lớn sản phẩm nhập khẩu nào đó đã được trợ cấp xuất khẩu trái với Hiệp định chung, gây ra thiệt hại khó cứu chữa được, thì để tránh tiếp tục bị thiệt hại như thế và để tính truy thu thuế chống trợ cấp đối với những sản phẩm này, có thể thu bổ sung thuế chống trợ cấp đối với hãng nhập khẩu đã đưa vào thị trường tiêu thụ, không quá 90 ngày trước khi thực hiện biện pháp tạm thời.

e/ Xác định thiệt hại.

Xác định thiệt hại phải dựa vào các chứng xứ xác thực, được thẩm tra một cách khách quan về các mặt: 1) Số lượng sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp và ảnh hưởng của nó đối với giá cả sản phẩm cùng loại tại thị trường trong nước; 2) Ảnh hưởng của những sản phẩm nhập khẩu này đối với những người sản xuất sản phẩm cùng loại ở trong nước. Về số lượng sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp, cơ quan điều tra vừa phải tính số lượng tuyệt đối, vừa phải tính toán xem so với sản xuất và tiêu thụ ở trong nước nhập khẩu, chúng có tăng lên rõ rệt hay không. Về ảnh hưởng đối với giá cả, tổ chức điều tra phải xem xét chúng có làm giá cả của sản phẩm cùng loại trong nước nhập khẩu giảm mạnh hay không.

Khi thẩm tra sự ảnh hưởng đối với công nghiệp trong nước, nước nhập khẩu phải đánh giá ảnh hưởng biểu hiện ở tất cả các nhân tố và chỉ số kinh tế như: mức giảm thực tế và tiềm tàng về sản lượng, tiêu thụ, phân bố thị trường, lợi nhuận, năng suất lao động, lợi nhuận đầu tư, sử dụng thiết bị; những ảnh hưởng đối với các nhân tố giá cả trong nước; những ảnh hưởng bất lợi thực tế và tiềm tàng đối với lưu động vốn, việc làm, tiền lương, tích lũy tư bản hoặc năng lực đầu tư. Đối với nông nghiệp thì phải tính xem việc đó có tăng thêm gánh nặng của chính phủ trong quy hoạch giúp đỡ nông nghiệp hay không.

Tóm lại là phải chứng minh được rằng hàng nhập khẩu được trợ cấp đang gây thiệt hại. Song, còn có các nhân tố khác cũng gây thiệt hại cho công nghiệp, không được đổ lên đầu hàng nhập khẩu được trợ cấp những thiệt hại do những nhân tố này gây ra.

Khi xác định thiệt hại đối với công nghiệp trong nước, thì thiệt hại đối với công nghiệp trong nước nói ở đây là chỉ tất thảy các thiệt hại đối với toàn bộ các nhà sản xấut sản phẩm cùng loại ở trong nước. Nhưng nếu người sản xuất có liên quan với hãng xuất khẩu hoặc nhập khẩu sản phẩm bán phá giá, hoặc chính họ bị coi là hãng nhập khẩu hàng bán phá giá, thì không tính họ vào cái gọi là công nghiệp trong nước ấy.

Khi có đủ tư liệu để phân loại ngành sản xuất, người sản xuất, thì mới đánh giá ảnh hưởng của hãng nhập khẩu được trợ cấp đối với sản phẩm cùng loại. Nếu không làm như thế được thì đánh giá những ảnh hưởng ấy đối với sản phẩm tương tự, rồi lấy kết quả quá đánh giá này làm kết quả đánh giá ảnh hưởng của hãng nhập khẩu được trợ cấp.

Có thể chia lãnh thổ một nước thành hai hoặc nhiều thị trường cạnh tranh, những người sản xuất trên mỗi thị trường ấy được xem là một ngành riêng, với điều kiện là: 1) Những người sản xuất tại thị trường ấy tiêu thụ tại thị trường ấy toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ sản phẩm do họ sản xuất; 2) Nhu cầu của thị trường này chủ yếu không phải do các nhà sản xuất của địa phương khác có mặt tại lãnh thổ đó thỏa mãn. Trong trường hợp như vậy, thì dẫu phần chủ yếu của toàn bộ nền công nghiệp trong nước không bị thiệt hại, nhưng nếu hàng nhập khẩu được trợ cấp tập trung tại một thị trường riêng rẽ như vậy đang gây ra thiệt hại cho toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ những người sản xuất trong thị trường này, thì có thể xác định là có gây thiệt hại.

2/ Trợ cấp.

a/ Thông báo trợ cấp.

Theo quy định trong điều khoản trợ cấp tại điều 16 của Hiệp định chung, bất kỳ nước nào ký thỏa thuận này cũng có thể gửi văn bản tới nước khác ký hiệp định này yêu cầu cung cấp tính chất và mức độ trợ cấp mà nước ấy đang thực hiện. Nước nhận được yêu cầu phải nhanh chóng cung cấp toàn bộ tình hình ấy. Nếu nước được yêu cầu không cung cấp tình hình ấy thì có thể chuyển việc này lên Ủy ban về trợ cấp và chống trợ cấp giải quyết.

b/ Trợ cấp.

Trợ cấp là biện pháp được các chính phủ các nước dùng để thúc đẩy thực hiện mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế và xã hội. Nhưng nó cũng có thể gây ảnh hưởng bất lợi đối với lợi ích của các nước khác. Khi áp dụng biện pháp trợ cấp, các nước phải cố gắng tránh: 1) Làm thiệt hại cho nền công nghiệp của nước khác; 2) Triệt tiêu hoặc làm thiệt hại tới lợi ích của nước khác được trực tiếp hoặc gián tiếp hưởng theo quy định trong Hiệp định chung; 3) Làm thiệt hại lợi ích của nước khác.

Yêu cầu nước khác chứng minh lợi ích của họ bị triệt tiêu, bị giảm hoặc phương hại nghiêm trọng là yêu cầu họ chứng minh những ảnh hưởng bất lợi sau đây: 1) Ảnh hưởng của hàng nhập khẩu được trợ cấp đối với thị trường trong nước của nước nhập khẩu; 2) Những ảnh hưởng của trợ cấp trong việc chèn ép hoặc gây trở ngại đối với những sản phẩm cùng loại nhập khẩu vào thị trường nước thực hiện trợ cấp; 3) Ảnh hưởng của hàng nhập khẩu được trợ cấp đối với sản phẩm xuất khẩu cùng loại của nước khác.

c/ Về trợ cấp cho sản phẩm không phải là những sản phẩm cấp thấp.

Hiệp định này quy định rõ ràng rằng, các nước ký hiệp định này không được trợ cấp cho những sản phẩm không phải là sản phẩm cấp thấp. Các biện pháp trợ cấp xuất khẩu bị cấm gồm có:

+ Trợ cấp trực tiếp của chính phủ cho những công ty hoặc xí nghiệp công nghiệp do hoàn thành nhiệm vụ xuất khẩu.

+ Cho phép giữ lại một phần ngoại tệ hoặc khen thưởng xuất khẩu.

+ Chính phủ hoặc các tổ chức được chính phủ trao quyền dành cho hàng xuất khẩu những ưu đãi về cước vận tải và các cước phí khác ở trong nước so với hàng tiêu dùng trong nước.

+ Chính phủ hoặc các tổ chức đại diện cho chính phủ dành cho sản phẩm nhập khẩu hoặc sản phẩm và dịch trong nước dùng để sản xuất hàng xuất khẩu những điều kiện ưu đãi hơn những sản phẩm cùng loại sản xuất để tiêu dùng trong nước hoặc những sản phẩm và dịch vụ trực tiếp cạnh tranh với chúng, và dành cho chúng những điều kiện ưu đãi hơn điều kiện thương mại hiện có trên thị trường thế giới.

+ Hàng xuất khẩu của các xí nghiệp công nghiệp hoặc thương nghiệp được miễn toàn bộ hoặc một phần thuế được chậm nộp thuế trực tiếp hoặc tiền phúc lợi xã hội.

+ Khi tính cơ số thuế trực tiếp cho hàng xuất khẩu được hưởng mức khấu trừ đặc biệt cao hơn so với hàng tiêu dùng trong nước.

+ Sản xuất và phân phối hàng xuất khẩu được miễn trừ thuế gián thu nhiều hơn sản xuất và phân phối hàng tiêu dùng trong nước cùng loại.

+ Cho hàng hóa, vật tư và lao động dùng để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn trừ hoặc chậm nộp thuế gián thu lũy tiến nhiều hơn so với sản phẩm cùng loại tiêu dùng trong nước.

+ Miễn trừ hoặc trả lại thuế nhập khẩu nhiều hơn thuế nhập khẩu đánh vào hàng nhập khẩu để tái xuất khẩu.

+ Chính phủ hoặc tổ chức đặc biệt do chính phủ kiểm soát bảo trợ cho vay tín dụng xuất khẩu hoặc bảo hiểm nhằm giữ cho giá thành của sản phẩm xuất khẩu không bị tăng lên, hoặc nhằm bù đắp những tổn thất do rủi ro về hối suất gây ra mà chi phí bảo hiểm không đủ sức bù đắp các chi phí kinh doanh lâu dài và những tổn thất ấy.

+ Chính phủ hoặc tổ chức đặc biệt do chính phủ kiểm soát cho hưởng chế độ lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu thấp hơn lãi suất thực tế phải trả (hoặc thấp hơn lãi suất họ vay cũng một lượng tiền như thế, cũng một kỳ hạn như thế, cũng một loại tiền như vậy, trên thị trường tư bản quốc tế), hoặc ít hơn chi phí mà họ phải chi cho hàng xuất khẩu hoặc tổ chức tài chính để có được tín dụng xuất khẩu với điều kiện có lợi.

+ Mọi chi phí trợ cấp xuất khẩu nói ở điều 16 trong Hiệp định chung.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s