Chủ nghĩa tự do và các học thuyết lớn về đạo đức học – Phần II


Trong tâm lý học (nếu bằng thuật ngữ này ta nói đến bộ môn tìm cách mô tả và giải thích cách hoạt động của tinh thần con người), ta cũng còn tìm thấy, trong thời cổ đại, cuộc tranh luận giữa những tác giả, cũng giống như Helvétius và Mandeville, cho rằng con người là hoàn toàn ích kỷ (động cơ duy nhất là tình yêu bản thân) và những ai, giống như David Hume và Adam Smith, nhìn thấy trong con người những nguyên lý hành động (dục vọng, khuynh hướng tự nhiên, bản năng, phản ứng, ao ước) không hướng đến việc tìm kiếm lạc thú cho riêng mình. Ý kiến – được cho là cấu thành tư tưởng tự do – giải thích hành động con người chỉ duy nhất bằng tình yêu bản thân hay bằng việc tìm kiếm lạc thú là một ý kiến hiện đại và là một trong những huyền thoại được người ta lặp lại một cách thiếu suy nghĩ. Không những các nhà sáng lập chủ nghĩa tự do thường bác bỏ ý kiến này, mà họ còn là những người đi đầu để nhắc nhở rằng ý kiến đó xưa như trái đất. Chẳng hạn, Kant (người cho rằng ý kiến trên là sai) viết như sau: “Trong mọi thời đại, luôn có những triết gia… quy tất cả cho một tình yêu bản thân ít nhiều tinh tế”.

Và Hume, trong việc phản bác lý thuyết vị kỷ, nhắc lại rằng đó là ý kiến thống trị trong thời cổ đại: “Ý tưởng theo đó các tình cảm đạo đức xuất phát từ tình yêu bản thân hay từ việc ước tính lợi ích cá nhân, là một tư tưởng nảy sinh một cách tự phát (is an obvious thought). Hầu hết các tác giả thời cổ đại bàn về thế giới tinh thần (most moral writers of Antiquity)… đều gán cho những tình cảm phẩm hạnh của chúng ta một nguồn gốc vị kỷ”.

Cuối cùng, vẫn trong lĩnh vực trí tuệ, ta cũng tìm thấy ở thời buổi xa xưa đó, lý thuyết “liên tưởng các ý tưởng”. Xin nhắc lại là lý thuyết này tìm cách giải thích sự ra đời các ý tưởng và tình cảm gọi là “phức tạp” (đặc biệt là những ý tưởng và tình cảm phân biệt con người với các động vật cao cấp khác, ví dụ như cảm giác bất công) từ những ý tưởng và tình cảm “sơ đẳng” ít nhiều được các động vật này chia sẻ. Thể theo lý thuyết này, các hiện tượng trí tuệ – ý tưởng, xúc cảm,… -, cũng giống như các nguyên tử và phân tử trong hóa học, nối tiếp và kết hợp với nhau, thay thế và liên kết nhau theo một trật tự đều đặn mà nhà khoa học có thể phát hiện. Thomas Brown viết như sau về tính lâu đời của lý thuyết này: “Ý kiến cho rằng toan tính của Hume [trình bày và liệt kê các quy luật chi phối sự liên tưởng] là độc đáo chắc chắn là một ý kiến sai lầm (was indeed an erroneous one)… điều mà ngay những kẻ man rợ không thể không nhận thấy khó mà thoát khỏi sự chú ý của các triết gia dù thuộc thời đại nào… có thể tìm thấy một liệt kê tương tự với liệt kê của Hume trong các công trình của nhà sáng lập vĩ đại triết học tiêu dao (paripatetics) [Aristote F.V.] cũng như trong các công trình khác, của truyền thống kinh viện hay của các công trình gần đây hơn”.

Các học thuyết quy phạm (normative)

Như đã thấy trong phần dẫn nhập của quyển sách này, mục đích của các nhà tự do cổ điển không chỉ là tìm hiểu và giải thích mà còn nhằm cải tiến cách hoạt động của đầu óc con người và của xã hội. Nhưng khi một tác giả nghĩ rằng thể chế này hay thể chế khác là tốt hơn thể chế kia thì người này buộc phải làm rõ, theo ý anh ta, thế nào là “tốt hơn” hay “tệ hơn”. Như thế, tác giả đó đặt chân vào đạo đức học, và trong lĩnh vực này cũng thế, các học thuyết khác nhau và đối lập nhau có một lịch sử lâu dài.

Về sự hài hòa tự nhiên

Khi đọc các triết gia Hy Lạp và Latin, ta nhanh chónh nhận ra sự bất đồng giữa những tác giả (giống như Frédéric Bastiat và Herbert Spencer hai nghìn năm sau) xem Tự nhiên là hoàn toàn hài hòa và có lợi cho con người (và do đó phải để cho hoạt động của Tự nhiên không bao giờ bị làm nhiễu loạn) với những tác giả cho rằng Tự nhiên có những điều không hoàn hảo và thiếu sót mà trí tuệ con người có thể và phải sửa chữa. Trong tác phẩm Tự nhiên, John Stuart Mill nhắc lại tính lâu đời của trào lưu thứ nhất: “Việc ý thức rằng tất cả những gì loài người tiến hành nhằm cải thiện thân phận của mình, trong một chừng mực lớn, chủ yếu là làm trái trật tự tự phát của Tự nhiên bao giờ cũng gieo một bóng nghi ngờ lên những toan tính mới mẻ và chưa từng có đó […], ngày nay người ta còn tin một cách mơ hồ rằng kế hoạch tổng quát của tự nhiên… là một khuôn mẫu mà ta phải bắt chước […]. Những câu thơ của Horace, trong đó các nghệ thuật nổi tiếng về đi biển và đóng tàu bị bác bỏ… cho thấy là, ngay cả ở thời đại hoài nghi đó, cái mạch của cảm giác xưa vẫn chưa cạn kiệt…

Hai nghìn năm sau Horace, Herbert Spencer lại thể hiện một cảm nhận giống như thế: “Một khi ta bắt đầu can thiệp vào trật tự của Tự nhiên, không ai có thể nói được là việc này sẽ đưa ta đến đâu… Và nếu điều này là đúng trong phần không có con người của trật tự của Tự nhiên thì phải chăng lại càng đúng hơn nữa trong cái phần có những quan hệ giữa con người với nhau của trật tự này?”; “Ta tìm thấy trong xã hội, cũng như trong các lĩnh vực khác của sự sáng tạo, nguyên lý tuyệt vời về sự tự điều tiết (beautiful self adjusting principle), nguyên lý này duy trì tất cả các phần tử ở thế cân bằng… các luật của xã hội là sao cho các tật bệnh tự nhiên tự chúng chỉnh sửa”; “những khó khăn lớn mà chúng ta gặp phải trong xã hội bắt nguồn từ việc con người làm nhiễu loạn các quy luật của tự nhiên (disturbance of natural laws)”.

Đến đây thật khó mà không nghĩ đến diễn từ của nhiều tác giả gần đây hơn, như Ludwig von Mises, Jacques Rueff và cả Friedrich Hayek, trong một số bài viết của tác giả này, về các thị trường tự do cạnh tranh.

Nhưng cho dù có tin hay không rằng Tự nhiên là hoàn toàn hài hòa thì ngay cả những ai nghĩ rằng có thể cải tạo và chỉnh sửa Tự nhiên cũng thừa nhận là Tự nhiên thường thể hiện một sự hiền minh đáng khâm phục khiến ta bối rối. Làm thế nào giải thích sự hình thành những cơ chế và tổ hợp tinh tế, qua đó Tự nhiên tự duy trì và dường như tìm cách đạt đến một số mục đích? Các lý thuyết cạnh tranh được đề ra trong thời cổ đại không khác mấy với các lý thuyết đối đầu nhau vào thời kỳ của chủ nghĩa tự do. Đối với một số tác giả, hiển nhiên mà ta có thể phát hiện trong Tự nhiên một “ý đồ”: ta có thể tìm ở đó dấu vết của một công trình sư thông minh đã tạo ra thế giới này, một thế giới được kết hợp hài hòa theo một kế hoạch được xác định trước. Đó là ý kiến của Cicéron, trong số ý kiến của nhiều tác giả khác: “Trong bấy nhiêu chuyển động, trong bấy nhiêu sự nối tiếp nhau, trong trật tự của biết bao nhiêu sự vật lớn lao… chắc chắn ta phải kết luận là có một trí tuệ chi phối những chuyển động tự nhiên lớn như thế, […] sự ích lợi, cái đẹp và trật tự của chúng… cho thấy khá rõ rằng nguyên nhân của chúng không phải là ngẫu nhiên”.

Nếu ta tin Condorcet thì hai ngàn năm sau, Turgot cũng có cùng ý kiến như trên: “Ông Turgot tưởng đã nhận ra trong tất cả những gì ta biết về vũ trụ dấu vết không thể chối cãi, không chỉ của một trật tự, mà còn là dấu vết của một ý định nhân đức và bảo toàn.

Thể theo trào lưu tư tưởng đối thủ, các cơ chế được điều chỉnh tuyệt vời đến thế là kết quả của sự tất yếu mù quáng và của những lực tự nhiên không có ý đồ (như “tổ hợp của các nguyên tử” hay những lực “sinh sản” và lực “sinh trưởng phát triển thực vật”). Các hình thái và tổ hợp ít bền vững nhất từng xuất hiện đã tiêu vong do chính ngay tính không bền vững của chúng. Duy chỉ những hình thái có một sự ổn định nhất định (nhưng nổi lên, như tất cả những hình thái khác, mà không có ý đồ) là sống sót. Như Lucrèce viết trong một bài thơ nổi tiếng: “Từ thiên thu, vô số phần tử của vật chất, va đụng nhau trên mọi hướng, bị chính sức nặng của chúng kéo đi, đã kết hợp nhau lại theo mọi kiểu, thử nghiệm mọi tổ hợp có khả năng tạo ra các thực thể, khiến cho không có gì là ngạc nhiên khi cuối cùng chúng bắt gặp trật tự và chuyển động sản sinh ra thế giới và đổi mới thế giới hằng ngày”.

Mười tám thế kỷ sau, một nhân vật của Hume trong tác phẩm Đối thoại bảo vệ cùng một quan điểm như trên: “Điều phải xảy ra là, trong một thời hạn vô cùng, mỗi trật tự, hay tổ hợp có thể, của những phân tử vật chất đều được thử nghiệm… Nếu có một hệ thống, một trật tự, một cấu trúc sự vật trong đó vật chất có thể bảo toàn sự vận động vĩnh viễn dường như là cần thiết cho nó mà vẫn duy trì tính thường kỳ của hình thái… thì chuyển động liên tục của vật chất cuối cùng sẽ tạo ra cái trật tự hay cấu trúc, mà một khi đã đạt được, sẽ tự duy trì bằng chính bản chất của nó”.

Và Hume giải thích vì sao ta lại có cảm tưởng nhìn thấy ở đấy một “ý đồ”: “Ở khắp mọi nơi mà vật chất đã định vị, kết hợp và điều chỉnh sao cho gìn giữ được tính liên tục của các hình thái, thì tất yếu vật chất khoác vẻ một đối tượng do nghệ thuật tạo nên và bắt nguồn từ một ý đồ…”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Francisco Vergara – Đạo đức trong kinh tế – NXB TT 2010.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s