Tham vọng của Trung Quốc thông qua BRI – Phần I


Tham vọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Sáng kiến “Vành đai và Con đường” làm sống lại những ký ức về hệ thống triều cống của Trung Quốc thời phong kiến.

Ở biên giới giữa Trung Quốc và Kazakhstan, một thành phố thuộc Con đường tơ lụa mới đã mọc lên với tốc độ nhanh đến mức Google Earth chỉ vừa mới bắt đầu ghi lại hình ảnh của những tòa nhà cao tầng xuyên qua màn sương mùa Đông trên thảo nguyên. Nơi từng là một thị trấn biên giới nghèo khó giờ đây đã trở thành nơi sinh sống của 200.000 người, được lắp đặt những màn hình ngoài trời khổng lồ để chiếu những đoạn phim về thành tích chói lọi của Con đường tơ lụa mới và có những nhà hàng phục vụ món sashimi và rượu vang châu Âu. Khorgos đã trở thành cửa ngõ từ Trung Quốc đến Trung Á và đến tận châu Âu.

Một thị trấn tương tự cũng đang mọc lên ở Kazakhstan. Một trung tâm thương mại miễn thuế đã được dựng lên vắt ngang qua biên giới để những người Kazakhstan có thể mua được rượu nước hoa giá rẻ và hàng hóa giảm giá của Trung Quốc. Tuy nhiên, điểm nổi bật then chốt – nằm ở ngay bên kia biên giới – là những giàn cần cẩu khổng lồ vốn thường thấy ở các cảng trên thế giới. Cổng Khorgos là nơi tiếp nhận container, một “cảng khô” được xây dựng từ con số không vào năm 2014. Trung tâm chuyên chở này được dự định sẽ là một mắt xích quan trọng trong điều mà Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gọi là “cầu nói Á – Âu trên đất liền”. COSCO của Trung Quốc, một trong những gã khổng lồ về vận chuyển của thế giới, là một trong số các nhà đầu tư ở đây. Cổng Khorgos được điều hành bởi DP World, nhà khai thác cảng đến từ Dubai. Năm 2019, cảng khô này đã xử lý 160.000 TEU (đơn vị tương đương với một container chuẩn). Hicham Belmaachi, nhà quản lý cảng người Maroc, kỳ vọng con số này sẽ tăng lên 400.000 vào năm 2025.

Khorgos là một vùng đất xa xôi hẻo lánh: Vùng cực không thể tiếp cận của khu vực Á – Âu – điểm xa nhất trên Trái Đất để đến bất kỳ đại dương nào – nằm không xa nơi đây. Giờ đây, bên ngoài điểm đó, một siêu lục địa Á – Âu mới và rộng lớn đang thành hình. Người ta không chỉ hứa hẹn về những tuyến đường sắt xuyên Trung Á tới châu Âu, mà còn về những kế hoạch vĩ đại – một vài trong số này đã trở thành hiện thực – về các tuyến đường ống, đường bộ, đường sắt cao tốc và cáp quang.

Điều  này đang làm biến đổi địa hình của khối đất liền lớn nhất trên Trái Đất. Trong không gian mới này, những trở ngại của quá khứ gần đây – Bức màn sắt, một Trung Quốc bị giam hãm trong chính sách tự cung tự cấp của Mao Trạch Đông, thậm chí những trở ngại về địa hình của dãy Himalaya, những sa mạc nội Á và chính Bắc Cực đang tan chảy – ngày càng trở nên kém phần quan trọng. Khoảng cách về đường sá cũng như tâm lý giữa châu Âu và Đông Á đang bị thu hẹp khi vùng đất rộng lớn và thưa dân ở trung tâm khu vực châu Á – Âu đang được dồn lại – thông qua hệ thống cơ sở hạ tầng mới – về một quy mô có thể quản lý được. Chí ít đó là theo cách nhìn của các nhà hoạch định Trung Quốc. Và theo góc nhìn lịch sử, nếu có điều gì bất ngờ thì đó là việc sự biến đổi này không được thực hiện theo hình dung của phương Tây hay theo những quy tắc của họ. Châu Á đang tiến đến châu Âu chứ không phải ngược lại.

Việc phục hưng Con đường tơ lụa đã được đẩy mạnh như một phần trong sự bành trướng của Trung Quốc, vốn được biết đến với tên gọi Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI). BRI là chính sách đối ngoại đặc trưng và quả thực bao trùm mọi mặt – một “dự án thế kỷ”, theo lời Tập Cận Bình. Nhưng chính xác thì BRI là gì? BRI chủ yếu là viện trợ hay thương mại? Đó có phải là một Kế hoạch Marshall kiểu Trung Quốc hay không? Dự án này có thực chất không, hay chỉ là động thái “gắn nhãn” cho sự trỗi dậy của Trung Quốc trên trường quốc tế?

Ngân hàng Thế giới đã đưa ra định nghĩa cơ bản về BRI: “Một nỗ lực do Trung Quốc dẫn dắt nhằm cải thiện tính kết nối và hợp tác khu vực trên quy mô xuyên lục địa thông qua các khoản đầu tư quy mô lớn”. Tóm gọn như vậy là tương đối chính xác, và việc giúp đỡ các nước nghèo xây dựng cơ sở hạ tầng là một thành phần quan trọng. Nhu cầu xây mới cơ sở hạ tầng trên toàn cầu là rất lớn. Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) ước tính rằng chỉ riêng châu Á đã cần đầu tư tới 26.000 tỷ USD trong giai đoạn 2016 – 2030, tức là 1700 tỷ USD/năm, nếu muốn duy trì tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và đối phó với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, bài viết này lập luận rằng trên hết, Đảng Cộng sản Trung Quốc đang sử dụng BRI để định hình lại một trật tự thế giới phù hợp hơn với ý muốn của họ. Trọng tâm là sự can dự kinh tế và khôn khéo trong hoạt động ngoại giao. Các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh ký kết các dự án BRI với các quốc gia vì những lý do chiến lược hoặc chính trị. Thường thì những điều này bị ẩn đằng sau tình trạng hỗn loạn về thương mại mà BRI gây ra. (Đối với những người bối rối không rõ liệu BRI là một sáng kiến theo đường lối kinh tế chỉ huy từ trên xuống hay là một sự điên rồ từ dưới lên, thì câu trả lời là cả hai). Tuy vậy, đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, BRI đại diện cho một nguyên mẫu về một khối địa chính trị mới nổi vào thời điểm mà trật tự dựa trên các quy tắc đang nằm dưới sự quản lý dễ lung lay của Mỹ.

Khái niệm về một trật tự mới, được tuyên bố thẳng thừng, có thể gây hoang mang. Do vậy, một ý tưởng ôn hòa hơn đặt BRI vào bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn: Hệ thống triều cống xa xưa. Trung Quốc nằm ở trung tâm thế giới, sử dụng sự giàu có và sức mạnh của mình, trước tiên là ở các nước lân cận, và kết nối mọi người với khái niệm về Trung Quốc như một cường quốc nhân từ và là một lựa chọn thay thế cho phương Tây. Những người thuận theo hệ thống này sẽ được hưởng lợi từ sự hào phóng của Bắc Kinh. Những người bất tuân sẽ không nhận được sự hào phóng đó. BRI là một cách giúp liên kết các lục địa với nhau thông qua cơ sở hạ tầng được cải thiện và một câu khẩu hiệu mang tính bao trùm để khiến cho mọi hành động của Trung Quốc ở nước ngoài đều có vẻ không gây đe dọa. Điểm trọng yếu nằm ở chỗ BRI chính là “con cưng” của Tập Cận Bình: Đó là một dự án chính trị nhằm phản ánh hình ảnh tốt đẹp của vị “hoàng đế” này, và cũng là một dự án kinh tế.

Sự xúc tiến trên nhiều lĩnh vực

Tập Cận Bình đã công bố sáng iến này thông qua hai bài phát biểu vào năm 2013. Bài phát biểu đầu tiên – ở Astana (nay là Nursultan), thủ đô Kazakhstan – trình bày về phần trên đất liền của chính sách  này, tức là “Vành đai kinh tế Con đường tơ lụa”. Vành đai này kết nối Trung Quốc với Trung Á, Đông Nam Á và Tây Á, và tiếp tục tới châu Âu. Từ “vành đai” mang tên gọi kỳ lạ, ám chỉ điều gì đó không chỉ liên quan tới vận chuyển năng lượng hay các nút thắt khác. Thay vào đó, một mạng lưới cơ sở hạ tầng liên kết với nhau sẽ phát triển thành một cái gì đó có chiều sâu hơn: các khu công nghiệp và hành lang kinh tế với các hoạt động sản xuất, logistics, xây dựng…

Ngay sau đó, Tập Cận Bình đã trình bày về phần trên biển của BRI tại thủ đô Jakarta của Indonesia. Một “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI”, một mạng lưới các thành phố cảng ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải sẽ kéo Trung Quốc xích lại gần hơn các khu vực này qua đường biển. Tập Cận Bình đã tiết lộ những phương diện khác của kế hoạch này: một “Con đường tơ lụa vùng cực” để phát triển các tuyến vận chuyển ở Bắc Cực; một “Con đường tơ lụa số” gồm các tuyến cáp ngầm dưới biển, viễn thông 5G và điện toán đám mây; và thậm chí một “hành lang thông tin ngoài không gian” để mở ra những khả năng phóng vệ tinh và phóng vào vũ trụ.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Economist – 06/02/2020

CVĐQT – số 2/2020

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s