Chống trợ cấp và chống bán phá giá – Phần III


d/ Về trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm cấp thấp.

Các nước ký Hiệp định chung không được dùng phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp trợ cấp xuất khẩu hàng cấp thấp để làm phương tiện cạnh tranh thị trường. Cần phải hướng tới hậu quả của việc cạnh tranh thị trường bằng các thủ đoạn không ngay thẳng. Nước này trợ cấp xuất khẩu có nghĩa là chèn ép xuất khẩu của nước khác. Khi cạnh tranh trên thị trường mới, cần phải tính tới phương thức truyền thống trong việc cung ứng sản phẩm cấp thấp ấy trên thị trường thế giới.

Các nước không được dùng phương thức trợ cấp xuất khẩu để làm cho giá cả sản phẩm cấp thấp của mình rẻ hơn giá cả hàng hóa cùng loại của người cung ứng khác trên cùng thị trường.

e/ Trợ cấp ngoài trợ cấp xuất khẩu.

Trợ cấp ngoài trợ cấp xuất khẩu cũng là công cụ quan trọng được sử dụng rộng rãi để thực hiện mục tiêu trong chính sách kinh tế – xã hội. Song, nó cũng có thể gây ra thiệt hại hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại đối với công nghiệp trong nước nhập khẩu, hoặc phuong hại tới lợi ích của nước khác, triệt tiêu hoặc làm giảm lợi ích của nước khác được hưởng theo quy định trong Hiệp định chung, nhất là những trợ cấp này có thể gây ảnh hưởng bất lợi đối với các điều kiện cạnh tranh bình thường. Do vậy, khi thực hiện các trợ cấp này phải tránh gây ảnh hưởng.

Các trợ cấp loại này gồm có: 1) Chính phủ trợ vốn, cho không, cho vay hoặc bảo trợ đối với xí nghiệp thương nghiệp; 2) Chính phủ bảo đảm phân phối vật tư, dịch vụ có tính chất kinh doanh hoặc giúp đỡ, trợ vốn một cách thuận lợi cho sự nghiệp công cộng; 3) Chính phủ trợ vốn cho nghiên cứu và quy hoạch phát triển; 4) Khuyến khích về tài chính; Chính phủ góp cổ phần hoặc cấp cổ phần gốc.

Hiệp định này còn quy định cụ thể về thương lượng, dàn xếp, giải quyết tranh chấp, các biện pháp được áp dụng để chống lại các trợ cấp này và về trợ cấp, chống trợ cấp có liên quan đến các nước phát triển.

Ủy ban về trợ cấp và chống trợ cấp xử lý các vụ việc có liên quan tới hiệp định này.

II/ Hiệp định về các biện pháp chống bán phá giá

Tên gọi chính thức của hiệp định về các biện pháp chống bán phá giá là “Hiệp định về thực thi điều 16 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại”. Hiệp định này cho rằng, không được biến biện pháp chống bán phá giá thành vật cản thương mại quốc tế. Thuế chống bán phá giá chỉ được dùng để đối phó với những thiệt hại nặng nề hoặc là nguy cơ thiệt hại nặng nề đối với ngành công nghiệp nào đó, hoặc cản trở việc xây dựng ngành công nghiệp nào đó do việc bán phá giá gây ra. Nhằm mục đích đó, hiệp định này định ra trình tự ngay thẳng và công khai làm cơ sở cho việc thẩm tra toàn diện các trường hợp bán phá giá, thực hiện các quy định tại điều 16 của Hiệp định chung.

1/ Về bán phá giá, thiệt hại về công nghiệp trong nước.

a/ Xác định việc bán phá giá.

Trong buôn bán bình thường, giá cả một hàng hóa nào đó của nước này xuất khẩu sang nước khác thấp hơn giá sản phẩm cùng loại tiêu thụ tại nước xuất khẩu, hàng hóa đó bị coi là hàng bán phá giá.

Sản phẩm cùng loại là sản phẩm giống (giống về mọi mặt) với sản phẩm bị thẩm tra. Nếu không có loại sản phẩm này thì là sản phẩm khác không giống về mọi mặt với sản phẩm bị thẩm tra, nhưng phải rất giống với đặc điểm của sản phẩm ấy.

Nếu sản phẩm không được nhập khẩu trực tiếp từ nước sản xuất mà nhập khẩu qua một nước trung gian, thì giá cả của sản phẩm này thường phải được so với giá cả tương ứng tại nước xuất khẩu. Thí dụ, sản phẩm chỉ đi qua nước xuất khẩu khi vận chuyển, thì phải so sánh với giá cả tại nước sản xuất.

Trường hợp tại thị trường trong nước của nước xuất khẩu không bán sản phẩm cùng loại, hoặc do tình hình đặc thù của thị trường khiến người ta không thể so sánh để tìm ra mức chênh lệch trong việc bán phá giá ấy, thì phải so với giá sản phẩm cùng loại tương ứng được xuất sang bất kỳ nước thứ ba nào; hoặc lấy giá thành sản xuất của sản phẩm ấy tại nước sản xuất, cộng với phí quản lý, chi phí tiêu thụ, các chi phí khác và lợi nhuận, rồi so với giá xuất khẩu để xác định mức chênh lệch khi bán phá giá. Thông thường, số lợi nhuận được cộng vào ấy không vượt quá lợi nhuận bình thường của sản phẩm cùng loại tiêu thụ tại thị trường trong nước sản xuất.

Nếu không có giá xuất khẩu, hoặc do mối quan hệ bạn bè giữa hãng xuất khẩu với hãng nhập khẩu hoặc với bên thứ ba, hoặc có sự dàn xếp đền bù nào đó, khiến nhà đương cục cho rằng giá xuất khẩu không đáng tin cậy, thì có thể dựa vào giá sản phẩm nhập khẩu được bán sang tay lần đầu cho bên mua độc lập để xác định giá xuất khẩu. Nếu sản phẩm không bán sang tay cho bên mua độc lập nào, hoặc khi bán sang tay và khi nhập khẩu tình hình sản phẩm có khác nhau, thì có thể dựa trên cơ sở xác định hợp lý của nhà đương cục để xác định giá xuất khẩu.

Để việc so sánh giá xuất khẩu với giá trong nước của nước xuất khẩu (hoặc nước sản xuất) được tiến hành một cách công bằng, việc so sánh hai loại giá ấy cần được tiến hành trên cùng mặt bằng thương mại, và mọi việc giao dịch cùng đồng thời được hoàn tất.

b/ Về xác định thiệt hại.

Việc xác định thiệt hại phải dựa trên những chứng cứ không thể bác bỏ và phải thẩm tra một cách khách quan về: 1) Hàng nhập khẩu bán phá giá và ảnh hưởng của nó đối với sản phẩm cùng loại tại thị trường trong nước; 2) Những ảnh hưởng đối với người sản xuất sản phẩm cùng loại ở trong nước do việc nhập khẩu này gây ra.

Về số lượng hàng nhập khẩu bán phá giá, tổ chức điều tra phải tính toán xem hàng nhập khẩu bán phá giá có tăng lên rõ rệt hay không, kể cả số tuyệt đối và số tương đối so với sản xuất và tiêu dùng tại nước nhập khẩu. Về giá cả hàng nhập khẩu bán phá giá, phải tính toán xem, so với giá sản phẩm cùng loại trong nước nhập khẩu, hàng nhập khẩu bán phá giá có giảm mạnh hay không, hoặc có gây ra giảm giá mạnh về các mặt hàng khác hay không, hoặc có cản trở việc tăng giá vốn dĩ sẽ xảy ra hay không. Nếu chỉ có một vài nhân tố trong những nhân tố nói trên thì chưa đủ căn cứ để rút ra kết luận cuối cùng.

Khi thẩm tra sự ảnh hưởng đối với công nghiệp người ta phải xem ảnh hưởng đó biểu hiện ở mọi nhân tố và chỉ số như: sản lượng, mức tiêu thụ, phân bố thị trường, lợi nhuận, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư, hoặc việc sử dụng thực tế công suất thiết bị; những ảnh hưởng đối với các nhân tố giá cả trong nước; những ảnh hưởng thực tế và tiềm tàng đối với lượng tiền mặt, việc làm, tiền lương, mức tăng trưởng, tích lũy tư bản hoặc năng lực đầu tư. Nếu chỉ có một vài nhân tố trong các nhân tố đó bị ảnh hưởng thì cũng chưa hẳn đã đủ để rút ra kết luận cuối cùng.

Tóm lại, phải bằng các sự thật để chứng minh được rằng hàng nhập khẩu bán phá giá đã gây ra thiệt hại. Song, còn có các nhân tố khác gây ra thiệt hại đối với công nghiệp, không được tổ đổ lên đầu hàng nhập khẩu bán phá giá những thiệt hại do những nhân tố này gây ra.

Nếu có đủ tư liệu để phân loại ngành sản xuất, người sản xuất, thì tiến hành đánh giá ảnh hưởng của hàng nhập khẩu bán phá giá đối với sản phẩm cùng loại. Nếu không làm được như thế thì đánh giá những ảnh hưởng ấy đối với nhóm hoặc hai loại hàng gần giống như thế.

Khi xác định nguy cơ gây thiệt hại phải căn cứ vào sự thật. Cần phải tỉnh táo, việc sử dụng biện pháp chống bán phá giá, phải được cân nhắc và ra quyết định một cách hết sức cẩn trọng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s