Việt Nam sẽ đối phó với Trung Quốc trong vấn đề sông Mekong


Thitinan Pongsudhirak

Việt Nam tiếp nhận chức Chủ tịch luân phiên ASEAN vào tháng 1/2020. Ưu tiên chính sách đối ngoại quan trọng thứ hai của Hà Nội lúc này được cho là về vấn đề khu vực sông Mekong, sau vấn đề Biển Đông, và đây là điểm đáng lưu ý. Trong khi Biển Đông được coi là mối quan tâm chung của ASEAN, thì khu vực Mekong lại đang tồn tại vấn đề liên quan đến 5 quốc gia ven sông ở Đông Nam Á. 5 nước này phải đối phó với việc các đập thủy điện của Trung Quốc được xây dựng ở phía thượng nguồn vốn thường xuyên gây nên tình trạng hạn hán và đang làm cạn kiệt nguồn cá ở các vùng hạ lưu, đặc biệt là ở Campuchia và Việt Nam.

Nếu Việt Nam trên cương vị là Chủ tịch ASEAN làm theo ý muốn của mình, thì sông Mekong có thể sớm trở thành một vấn đề của ASEAN. Khi đó, 5 quốc gia ven sông sẽ được cung cấp thêm đòn bẩy để đối phó với việc Trung Quốc đơn phương “cắt xén” phần lớn nguồn nước ở thượng nguồn sông Mekong. Tiếp đó, nếu ASEAN có thể tập hợp với nhau trong cả hai vấn đề Biển Đông và sông Mekong, tổ chức khu vực gồm 10 thành viên này sẽ có lợi thế mặc cả hơn trước Trung Quốc, đặc biệt là nếu họ có thể lôi kéo các nước lớn khác như Nhật Bản và Mỹ cùng tham gia.

Trong bối cảnh sự thay đổi quyền lực toàn cầu đang diễn ra cùng với các động lực khu vực luôn thay đổi ở châu Á, vùng Bán đảo Đông Dương nằm giáp hoặc gần với khu vực Mekong đã trở thành không gian nổi bật và đầy triển vọng về phát triển kinh tế, chia sẻ tài nguyên và xây dựng năng lực, đến mức đòi hỏi phải có sự hợp tác hơn nữa giữa tất cả các bên liên quan. Mặc dù sông Mekong có nguồn nước khổng lồ cộng với việc cần phải hợp tác để chia sẻ tài nguyên giữa các quốc gia ven sông, các nước cũng mới chỉ thiết lập được một khuôn khổ quản trị khu vực lỏng lẻo và không mang tính ràng buộc ở khu vực sông Mekong, tập trung vào Tiểu vùng sông Mekong Mở rộng (GMS) từ đầu những năm 1990.

“Thế hệ đầu tiên” của sự hợp tác ở khu vực Mekong này đã đưa đến một loạt thỏa thuận hợp tác, nổi bật là Hiệp định sông Mekong (MA), Ủy hội sông Mekong (MRC) cũng như Viện Mekong (MI). Các mục tiêu chung và mang tính tập thể của những thỏa thuận hợp tác này là nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững của các quốc gia thuộc GMS bao gồm Campuchia, Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam, mặc dù Trung Quốc và Myanmar chỉ có tư cách quan sát viên tại MRC.

Gần 3 thập kỷ sau, khi các nền kinh tế ở khu vực Bán đảo Đông Dương phát triển mạnh mẽ nhờ vào các động lực thương mại, đầu tư và tăng trưởng trong ASEAN, không gian sông Mekong đã trở nên hấp dẫn hơn. Trong bối cảnh GMS bao gồm cả các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc, khu vực này hiện đang tạo nên một thị trường kết hợp với hơn 350 triệu dân, GDP hơn 1,2 nghìn tỷ USD cùng với tiềm năng tăng trưởng đáng kể.

Sự kết nối cơ sở hạ tầng tại GMS đã dẫn đến việc nhiều tuyến đường được xây dựng, nối từ phía Bắc sang phía Nam hoặc từ Đông sang Tây và chạy xuyên qua toàn bộ khu vực Bán đảo Đông Dương, trải dài từ thành phố Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam cho đến miền Nam Thái Lan, và từ Đông Nam Myanmar cho đến miền Trung Việt Nam. Cái còn thiếu về cơ sở hạ tầng của khu vực chính là tuyến đường sắt. Nhược điểm của sự phát triển tại khu vực sông Mekong là tình trạng sử dụng tài nguyên nước không đồng đều giữa các quốc gia ven sông ở thượng nguồn và hạ lưu.

Mặc dù các phương tiện hợp tác thế hệ đầu tiên, từ GMS và MA cho đến MRC, đã được sử dụng rất nhiều trong thời gian qua, nhưng sự phát triển kinh tế và các thay đổi địa chính trị mới đây đã thách thức vai trò, tính thiết thực và hiệu quả của các cơ chế này. Điều rõ ràng hiện nay là cần phải có sự hợp tác lớn hơn trong khu vực nhằm bắt kịp tốc độ sử dụng tài nguyên ngày càng gia tăng ở khu vực sông Mekong.

Đặc biệt sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc đã tạo ra những cách thức và cơ chế mới để thúc đẩy hợp tác khu vực. Đứng đầu trong số đó là cơ chế Hợp tác Lan Thương – Mekong (LMC), được thiết lập vào năm 2015. Trong nhiều năm qua LMC đã tổ chức hai cuộc họp của các Nhà lãnh đạo vào năm 2016 và 2018. LMC đã được thúc đẩy như là phương tiện hợp tác “thế hệ thứ hai” cho GMS.

Gần đây hơn, Thái Lan đã hồi sinh Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady-Chao Phraya-Mekong (ACMECS), vốn được thiết lập lần đầu tiên vào năm 2003, bao gồm tất cả các nước thuộc Bán đảo Đông Dương và không có Trung Quốc. ACMECS hiện đang thu hút nhiều sự chú ý bởi vì nó cung cấp một giải pháp thay thế cho LMC của Trung Quốc.

Mặt khác, LMC của Trung Quốc được hỗ trợ bởi Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI), vốn dự kiến sẽ dẫn đến việc thiết lập Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Bán đảo Đông Dương (CICPEC). Việc phát triển hệ thống đường sắt ở GSM đang được thực hiện khá tốt ở Lào, kết nối Côn Minh với Vientiane. Một sự kết nối đường sắt từ Vientiane chạy qua Thái Lan rồi hướng về phía Nam đến Malaysia và Singapore cũng nằm trong kế hoạch cơ sở hạ tầng của BRI.

Kết quả là, GSM đã trở thành một cấu trúc gồm nhiều mảnh ghép dành cho việc sử dụng tài nguyên chung và phát triển cơ sở hạ tầng. Các quy tắc, chuẩn mực và khung quản trị nên như thế nào để thực hiện giai đoạn hợp tác khu vực tiếp theo giữa các bên liên quan là điều gây tranh cãi. Và do đó, sự tương thích giữa các khung hợp tác như MRC và LMC cũng tương tự như vậy.

Về phần mình, với vai trò là Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã chọn chủ đề “ASEAN gắn kết và chủ động thích ứng”. Nền tảng của chủ đề này là 5 ưu tiên bao gồm: góp phần vào hòa bình và ổn định khu vực, thúc đẩy kết nối khu vực, thúc đẩy ý thức cộng đồng và về bản sắc ASEAN, đẩy mạnh quan hệ đối tác vì hòa bình và phát triển bền vững và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của ASEAN.

Ngoài ra, Việt Nam cũng trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong năm 2020, một năm rất quan trọng đối với một quốc gia “đang lên” và sắp tới Hà Nội cũng sẽ kỷ niệm 25 năm ngày tham gia ASEAN.

Việt Nam sẽ được hưởng lợi sau khi tiếp quản chức Chủ tịch ASEAN từ Thái Lan trong năm nay. Trong thời gian giữ chức chủ tịch của mình, Thái Lan đã đạt được thành tựu quan trọng, đó là đưa ra được Triển vọng ASEAN về Ấn Độ dương – Thái Bình Dương, một văn kiện dài năm trang giải quyết các vấn đề liên quan đến khái niệm khu vực “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mởi” (AOIP) do Mỹ đưa ra và BRI của Trung Quốc. Với AOIP là cơ sở để hướng đến các mối quan hệ với hai siêu cường đang cạnh tranh lẫn nhau này (đề cập đến Mỹ và Trung Quốc), Việt Nam có thể tập trung vào các ưu tiên trước mắt nhiều hơn. Nếu Việt Nam có thể thúc đẩy các vấn đề sông Mekong, bên cạnh vấn đề Biển Đông, trong bối cảnh các đập thượng nguồn của Trung Quốc đang gây nên những tác động quá mức, thì đó sẽ là một thành tựu quan trọng không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với các nước ở khu vực sông Mekong.

Nguồn: www.forbes.com

TKNB – 18/02/2020

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s