Chủ nghĩa tự do và các học thuyết lớn về đạo đức học – Phần V


Học thuyết chống tình trạng nô lệ mà các nhà tự do theo thuyết công lợi sẽ phát triển cũng không kém tinh vi so với học thuyết về tính chất không thể chuyển nhượng về mặt pháp lý của tự do cá nhân đã được các lý thuyết gia về pháp quyền tự nhiên phát triển. Trong khinh tế, luận cứ quan trọng là những công nhân tự do (ví dụ, ở Hà Lan và Anh) có sự sáng tạo và năng suất cao hơn người nô lệ ở các đảo Antilles. Do việc gia tăng năng lực sản xuất của nhân loại là một nhân tố rất thuận lợi cho sự gia tăng của hạnh phúc chung nên sự thoái lui của tình trạng nô lệ hiển nhiên là đáng mong muốn. Chẳng hạn, Adam Smith viết rằng: “hiếm có người nô lệ sáng tạo, và những cách thức có lợi nhất cho công nghiệp, các cách thức tạo điều kiện lao động dễ dàng và rút ngắn thời gian bằng máy móc hay bằng cách sắp xếp và phân phối công việc, đều được những con người tự do sáng tạo”; nếu không nên chờ đợi những chủ trang trại lớn có những cải tiến quan trọng thì lại càng ít hi vọng có được điều này khi họ sử dụng lao động của người nô lệ.

Và trong một chương dành cho trạng thái nô lệ trong tác phẩm Những nguyên lý của kinh tế học chính trị, John Stuart Mill viết: “Ảnh hưởng của thể chế này đến sản xuất được hiểu rõ. Khẳng định rằng lao động dưới sự đe dọa là không hiểu quả và vô bổ là một điều hiển nhiên… và việc thiếu chất lượng lao động không được bù đắp bằng một sự hoàn hảo trong việc hướng dẫn và kiểm tra lao động”.

Qua các trích dẫn trên, bạn đọc chớ có nghĩ rằng trong kho vũ khí công lợi, luận cứ chống trạng thái nô lệ chỉ có tính “kinh tế”, theo nghĩa hẹp của từ này. Các trích dẫn Adam Smith là từ một tác phẩm có chủ đề là Của cải của các dân tộc và các trích dẫn Mill là từ một chuyên luận kinh tế học chính trị. Do đó, việc chế độ nô lệ được xét dưới góc độ của tác động của chế độ này lên của cải là điều bình thường. Xin được nhắc là, đối với các tác giả công lợi, cũng như đối với các trường phái khoái lạc thời cổ đại, hạnh phúc chưa bao giờ được đồng nhất với sự gia tăng tiêu dùng các sản phẩm vật chất. Lý tưởng hoàn hảo của các triết gia này là lý tưởng của một đời dâng hiến cho những hoạt động khoa học, triết học và nghệ thuật và cho sự dấn thân chính trị. Gia tăng của hạnh phúc được chờ đợi từ gia tăng của năng suất chủ yếu phải đến từ sự an toàn và thời gian tự do mà gia tăng của năng suất mang lại để dành cho các hoạt động “tinh thần” chứ không phải là cho việc gia tăng không giới hạn của tiêu dùng. Khi phê phán chế độ nô lệ ở miền nam Hoa Kỳ, các nhà công lợi như James và John Stuart Mill chủ yếu nhấn mạnh đến tác động tai hại đến trạng thái tinh thần và nghị lực đạo đức (của người nô lệ lẫn người chủ của họ) chứ không nhấn mạnh đến hiệu quả thấp về mặt vật chất của hệ thống.

Ở đây, chúng tôi sẽ không dài dòng về những lý do lịch sử sâu sắc giải thích khát vọng mạnh mẽ, vào thời đó, một sự tự do lớn hơn trong nhiều lĩnh vực đến thế. Ta chỉ nhận xét là quả thật đã có một khát vọng như vậy, được thể hiện, trong hai học thuyết lớn về đạo đức (pháp quyền tự nhiên và chủ nghĩa công lợi) và bằng sự xuất hiện của một hệ thống những luận cứ và lập luận nhằm không chỉ kết án chế độ nô lệ, mà cả một loạt rộng lớn những ràng buộc và cấm đoán khác.

Như vậy, pháp quyền tự nhiên viện đến một chuỗi học thuyết như học thuyết chủ trương rằng tự do là “không thể chuyển nhượng” (Turgot, Condorcet, Jefferson, Paine…) trong lúc chủ nghĩa công lợi sản sinh ra một tập rất đầy đủ những luận cứ trình bày lợi ích sâu sắc đối với nhân loại khi làm chủ bản thân, khi có quyền tự do thảo luận, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do thương mại, tất cả các học thuyết này gắn chặt chẽ với tên tuỏi của Hume, Smith, Bentham…

Từ vựng và các khái niệm cơ bản của đạo đức học

Do mục đích của cuốn sách này nhằm phân loại những trào lưu chính của chủ nghĩa tự do theo học thuyết đạo đức mà đại biểu của các trào lưu này tán thành (theo tiêu chí tốt xấu mà các đại biểu này chấp nhận) nên chúng tôi cần lưu ý đến vài khó khăn liên quan đến từ vựng được sử dụng trong các thảo luận đạo đức và cần làm rõ nghĩa của các từ quan trọng được chúng tôi dùng.

Trái với những gì xảy ra trong hình học, ví dụ, các từ “elip”, “tiếp tuyến”, “cạnh huyền”,… chỉ một cách chính xác cùng một khái niệm đối với tất cả những ai bàn về các vấn đề này, trong đạo đức học, các từ then chốt thường được sử dụng với những nghĩa khác nhau, kể cả bởi những tác giả có thẩm quyền nhất. Chẳng hạn, khi các tác giả này dùng những từ như “luân lý” (morale) và “phong hóa” (moeurs) hay “công lý” (justice) và “nhân đức” (bienfaisance), quyền (droits) và “nghĩa vụ” (devoirs), “thói hư” (vices) và “phẩm hạnh” (vertus), “luật” (lois) và “trừng phạt” (sanctions),… thì không nhất thiết là họ đang bàn đến cùng một điều giống nhau.

Vấn đề mà thực trạng trên đặt ra không phải là không giải quyết được vì, theo lẽ thường, trước khi đề cập đến một chủ đề, các tác giả nghiêm túc đều điểm qua các cách khác nhau mà từ có thể gây vấn đề từng được những tác giả khác nhau sử dụng và báo cho bạn đọc biết nghĩa được họ dùng trong lời bình mà họ sẽ nêu lên sau này. Ta có một ví dụ tốt của phương pháp này ngay ở các trang đầu của tác phẩm Tự nhiên, của John Stuart Mill, trong đó trước khi xem xét giá trị của học thuyết đạo đức theo đó “ta phải thuận theo tự nhiên”. Mill điểm qua những nghĩa khác nhau khi từ “tự nhiên” được sử dụng. Adam Smith cung cấp một ví dụ khác với tác phẩm Lý thuyết những tình cảm đạo đức, trong đó tác giả xác định rất cẩn thận nghĩa ông sẽ gán cho các từ sympathy (đồng cảm), propriety (sở hữu), justice (công bằng)… Trên điểm này, chúng tôi khuyên nên tìm đọc quyển III của Tiểu luận về giác tính của Locke, có tựa chính xác là về các từ”.

Các từ “đạo đức” (éthique), “luân lí” (morale) và “phong hóa” (moeurs)

Khó khăn mà chúng tôi vừa nói đến bắt đầu ngay chính với chữ “đạo đức” (éthique) (cũng như với các chữ “luân lý” và “phong hóa”, vốn thường được dùng như những từ có nghĩa gần nhau). Đúng như từ điển Lalande viết trong mục éthique: “Từ này được dùng lúc thì theo nghĩa này, lúc thì theo nghĩa khác, và thường là theo một cách mơ hồ như từ morale”.

Bạn đọc nào chưa phát hiện các nghĩa khác nhau này đơn giản là không thể hiểu ý kiến của những tác giả như Smith, Hume, Locke, Mill và Sidgwick. Bởi thế, ta thử xem ba nghĩa chính mà từ “đạo đức” truyền tải.

1/ Trước tiên, nó chỉ việc nghiên cứu cái phần của hành vi con người được gọi là “phong hóa hay “ứng xử” theo cách mà hành vi này được thể hiện trong các xã hội khác nhau. Nhánh của suy tưởng này đôi lúc được gọi là “khoa học phong hóa” hay “luân lý mô tả” (để đối lập với “luân lý hướng dẫn”). Trong nghĩa này, từ “đạo đức” chỉ một phần của xã hội học và nhân học.

2/ Nhưng “đạo đức” cũng chỉ việc nghiên cứu các đánh giá giá trị của con người về ứng xử và phong hóa (của bản thân mình và của người khác). Từ điển Lalande đề nghị dành cho từ “đạo đức” ý nghĩa thứ hai này: “Đó là điều chúng tôi đề nghị gọi bằng Đạo đức… Không nghi ngờ gì là các đánh giá giá trị về sự ứng xử là những sự kiện thực tế mà các đặc điểm cần được xác định.. việc nghiên cứu các đánh giá giá trị không thể thay thế việc nghiên cứu trực tiếp các ứng xử do ứng xử của con người không phải bao giờ cũng phù hợp với chính đánh giá của họ về giá trị các hành động.

Theo nghĩa này thì luân lý chỉ là một nhánh của tâm lý học: một nhánh mô tả các đánh giá và tình cảm đồng tình và không đồng tình (tình cảm “bất công”, “hối hận”,…), giải thích sự hình thành các đánh giá và tình cảm này và chỉ ra các nguyên nhân khiến chúng khởi động (Lý thuyết những tình cảm đạo đức của Adam Smith là một trong những lý thuyết nổi tiếng về chủ đề này).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Francisco Vergara – Đạo đức trong kinh tế – NXB TT 2010.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s