Quyền hỏi: Lịch sử phỏng vấn báo chí – Phần V


Một người được phỏng vấn có thể sửa chữa hoặc rút lại những gì đã nói hay không? Tất nhiên là có thể. Frederic Wile nhớ đến một cuộc phỏng vấn với William Jennings Bryan, với sự hiện diện của Phu nhân Bryan ngồi đan len và lắng nghe kế bên. “Tôi không nghĩ tôi nên nói vậy, Will à”. Bà chêm vào một điểm. “Và “Will” ngay lập tức “không nói” đến nó”. William C. Hudson, một phóng viên của tờ Brooklyn Daily Eagle, đã phỏng vấn Tổng thống Grant tại trang trại nghỉ hè của ông ta vào năm 1874 hay 1875 gì đó. Hudson đã viết bài phỏng vấn mà không nêu rằng đó là quan điểm của tổng thống, như “phép xã giao đòi hỏi” thời đó. Thay vào đó, ông dùng từ “thẩm quyền cao nhất” để nói đến những gì ông biết được về quan điểm của tổng thống, theo “cách nói trại thông thường”. Nhưng ông vẫn trằn trọc về việvc sử dụng một số câu của Grant trên giấy trắng mực đen, vì vậy ông đã gửi một bản thảo bài báo cho tổng thống, có lưu ý một số câu còn nghi ngại. Grant cảm ơn, sửa một số điểm, và thêm một chút thông tin về một đề tài khác nhưng cũng đủ trở thành một hành động phi thường đối với Hudson.

Những gì Hudson tường thuật là một hành động theo sáng kiến riêng của ông ta. Charles Dana có đưa ra một khái niệm chung: “Đừng bao giờ in một bài phỏng vấn mà bên được phỏng vấn không biết và không đồng ý”. Thông lệ chuẩn và đầu thập niên 1900 là gửi bài phỏng vấn đến nguồn tin để rà soát lại trước khi đưa đi xuất bản. Issac Marcosson, viết cho tạp chí Munsey’s, đã phỏng vấn Thống đốc Woodrow Wilson năm 1911 và quay từ New York trở lại Trenton để cùng ngồi rà soát lại với Wilson. Đối với Edward Price Bell thì việc xin phép nguồn tin chấp thuận một bài viết hoàn chỉnh là một con dấu phê duyệt cho bài phỏng vấn: “Bài phỏng vấn được chính thức xác nhận mang một con dấu rõ ràng chứng nhận tính chính xác trong tác phẩm của người phỏng vấn, và nhờ vậy bảo vệ không chỉ người được phỏng vấn mà cả người phỏng vấn, làm cho bài báo của họ rõ ràng trắng đen”. Dù Bell là một người phỏng vấn trứ danh nhất trong thời đại của ông về thời sự đối ngoại nhưng ông cũng dễ bị nguồn tin của mình bắt bài. Trong một bài báo về nghệ thuật phỏng vấn, Bell viết về những cuộc phỏng vấn với các nhà lãnh đạo của Đức, Italy (Mussolini), Pháp và Anh, và nói về họ như sau: “Đối với những chính khách này, tôi nói chúng ta đang đi tìm sự thật, ánh sáng, sự ngay thẳng, đi tìm những gì sẽ trở thành giá trị vĩnh cửu giáo dục thế giới, và tôi tin chắc rằng họ làm hết sức mình để cho chúng ta những gì mà chúng ta tìm kiếm”. Bell đã lạc quan bừa bãi về điểm này. Ông cảm thấy điều đó khi gặp một Hilter thực sự trong cuộc phỏng vấn năm 1935, khi mà Hitler tự coi mình là một tín đồ của hòa bình. Ông đọc ra những sự kiện của các năm sau để chứng minh cho sức ép mà những thế lực hung ác khác đè lên một Hitler có thiện chí.

Cuộc phỏng vấn có thể là một âm mưu giữa phóng viên và nguồn tin để bịp khán thính giả. Một phần của âm mưu đó là việc có nêu rõ tên hay không. Chauncey Depew đôi lúc được trích dẫn dưới tên của mình, nhưng những lúc khác lại được đặt dưới một cụm từ chung chung: “Chúng tôi đã biết được từ một nguồn tin đáng tin cậy”. Ngay từ đầu thế kỷ (XIX) đã có nhiều lo ngại về cái mà ngày nay chúng ta gọi là “rò rỉ thông tin”. Cũng có sự thông đồng trong bản thân sự thận trọng của người phóng viên, biết nhiều hơn những gì viết ra và giữ kín cho những quan chức công quyền mà họ có mối quan hệ tốt đẹp. Các nhà báo có thể bảo vệ một nhân vật quan chức được ưa thích, hay đơn giản là ngờ nghệch, khỏi chính bản thân nhân vật đó. Khi phỏng vấn William Howard Taft lúc còn đương chức Bộ trưởng Chiến tranh dưới thời Tổng thống Roosevelt, các nhà báo đã lấy làm ngạc nhiên vì Taft thổ lộ một cách bộc trực về sự bất đồng với tổng thống trong một vấn đề quan trọng. “Taft ngồi cười vui vẻ, đợi câu hỏi kế tiếp, hoàn toàn không nhận thức được quả bom mà mình vừa tung ra”, thông tín viên tờ New York Times Charles Thompson viết. “Ông ta được an toàn trong bàn tay của hầu hết chúng tôi; nhưng đại diện của Hãng tin Hearst tất nhiên phải in đậm trên tít lớn cảu trang nhất”. Vì vậy, đại diện của Hãng tin AP (Associated Press) là nhà báo Arthur Dunn nói với Taft rằng câu bình luận ông vừa phát biểu không nằm trong phạm vi quyền bí mật và đảm bảo với bộ trưởng là họ có quyền in nó trừ khi bộ trưởng ra lệnh phải giữ kín nó. “Chúng tôi hết sức khuyên ngài nên ra lệnh đặt yêu cầu quyền riêng tư đối với chúng tôi. Có phải tôi đang nói thay cho toàn bộ quý vị không?”. Và mọi người đồng ý. Sau khi các phóng viên đã rời đi, đại diện Hearst nói với ph1ong viên AP: “Dunn, tại sao cậu căm ghét một câu chuyện tốt dữ dội đến vậy?”.

Sự gọn gàng của giai thoại này  làm cho mọi người có thể ngờ rằng nó đã được kể qua người này người khác và được đánh bóng lại trước khi tìm đường in ra. Nhưng câu đảm bảo giản đơn của Thompson rằng Taft “được an toàn trong bàn tay của hầu hết chúng tôi” là một sự thừa nhận đáng chú ý rằng các phóng viên thường bảo vệ nguồn tin khỏi những câu nói hớ hênh thiếu suy nghĩ. Một thập kỷ sau, Karl von Wiegand bố trí một cuộc phỏng vấn với Thái tử Đức Friedrich Wilhelm, chỉ sau một vài tháng dấn thân vào Chiến tranh thế giới thứ nhất. Thái tử bảo von Wiegand nói với cha mình là Hoàng đế Đức điều thái tử không dám tự mình nói thẳng: Thái tử đảm bảo cuộc chiến đã thất bại. Von Wiegand bị rằng buộc bởi cách hiểu thông thường thời đó, và giữ kín quan điểm nhạy cảm này. Khi tạm biệt Wiegand, Wilhelm nói: “Tôi tin tưởng anh. Tất cả những gì tôi yêu cầu là đừng viết thêm những gì gây thêm rắc rối cho tôi”.

Eleanor Roosevelt đã chân thành cảm ơon những phóng viên nữ đã cố gắng bảo vệ bà. Năm 1933, Eleanor (Phu nhân Tổng thống Roosevelt) đã rò rỉ với bốn phóng viên nữ rằng Tổng thống Roosevelt đã từ chối ký một tuyên bố chung với Herbert Hoover đóng cửa các ngân hàng trước ngày khai trương. Các phóng viên nói với Phu nhân Roosevelt một câu chuyện như thế có thể gây ra một làn sóng kinh hoàng trên toàn cầu, và họ từ chối in nó. Một trong những nhà báo đó, bà Dorothy Ducas, hồi tưởng lại trong một cuộc phỏng vấn nhiều năm sau rằng “các phụ nữ luôn che đậy cho Phu nhân Roosevelt. Tất cả những thứ (bà) nói ra không hẳn đều được in lên giấy”.

Tính giả tạo của phỏng vấn, việc nó đi kèm với “báo chí mới”, trong đó các nhà báo đẻ ra và làm ra tin tức nhiều hơn là tường thuật nó, lúc đầu còn nằm trong khuôn khổ tính tạm thời của báo chí. Mặc dù Isaac Marcosson, một người ủng hộ phỏng vấn, có thể tuyên bố vào năm 1919 rằng phỏng vấn “chỉ là một cung đoạn của tường thuật”, nhưng Hãng tin AP lại cấm phóng viên của mình viết phỏng vấn theo kiểu đó cho đến năm 1926. Kent Cooper, người vừa trở thành Tổng giám đốc điều hành AP một năm trước đó, giới thiệu phỏng vấn như là một phần kế hoạch của mình nhằm hướng AP không chỉ đưa những tin “quan trọng”, mà cả những tin tức được mọi người quan tâm. Thực tế, bài phỏng vấn đều tiên của AP là với nhà vô địch đánh golf Bobby Jones. Nhưng do cảm giác phỏng vấn là một hình thức “làm” tin nhiều hơn tường thuật tin, nên nó vẫn mang dấu ấn kém xác thực.

Phỏng vấn xâm phạm

Phỏng vấn có thể là hợp tác, thậm chí bí ẩn, nhưng đó chỉ là một mặt của mối quan hệ yêu ghét lẫn lộn mà báo chí hiện đại thiết lập giữa phóng viên và quan chức. Ngay từ đầu, các nhà bình luận phỏng vấn thường nhắc đến tính hiếu chiến và quanh co của những người phỏng vấn. Grousset coi phỏng vấn là một hình thức “gián điệp”. Trong cuốn giáo trình năm 1912, Grant Milnor Hyde coi người được phỏng vấn như là “nạn nhân”.

Nếu phỏng vấn bị lên án như là một hành động gây hấn, nó cũng có thể được tôn vinh như là sự trình diễn, kỳ công hoặc một chuyện phi thường. Ngay từ đầu, phỏng vấn đã được coi là một thử thách minh chứng cho lòng dũng cảm của một phóng viên. Trong thập niên 1970, Joseph I.C. Clarke, một phóng viên New York, đã phỏng vấn Hồng y Giáo chủ John McCloskey tại nhà riêng, và nhớ lại trong hồi ký: “Tại văn phòng, mọi người nói không ai có thể làm được việc đó”. Vì vậy ông đã hỏi Đức Hồng y về tiến độ xây dựng Nhà thờ Thánh Patrick, ghi chép rất nhiều về vấn đề này, và gập sổ ghi chép lại. Đến điểm đó, phóng viên giả tình cờ hỏi về các sự kiện ở châu Âu, vì Đức Hồng y mới từ đó trở về. Khi ông đăng bài phỏng vấn lên tờ New York Herald, ông nêu bật quan điểm của Hồng y Giáo chủ về châu Âu, và hoàn toàn bỏ qua chuyện nhà thờ.

Karl von Wiegand coi cuộc phỏng vấn Giáo hoàng năm 1915 là một chiến thắng vĩ đại, và tờ báo đã thưởng ông 1000 USD. Trong bài phỏng vấn được đăng, ông viết:

Chỉ có những con người báo chí đã có nhiều cố gắng thu hút khán thính giả và phỏng vấn Đức Giáo hoàng mới đánh giá đúng mức những khó khăn và cản trở phải vượt qua. Trong trường hợp của tôi, khó khăn được coi là còn lớn hơn bởi vì khi nó diễn ra, tôi không phải là người Thiên chúa.

“Bất khả thi”, người ta nói với tôi ở Berlin.

“Bất khả thi” là câu trả lời cho những nỗ lực đầu tiên của tôi ở Rome.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s