Hậu hắc tùng thoại – Phần VI


Tống Nho tự xưng là: “Trong lòng chứa đầy sự trắc ẩn”. Còn tôi thì “Trong lòng chứa đầy Hậu Hắc”. Nếu bảo tôi nói, tôi cũng không biết nói từ đâu, chỉ đành tùy duyên mà thuyết pháp, muốn nói gì thì nói cái đó, trong miệng nói như thế nào thì sẽ viết như thế ấy. Hoặc nói chuyện xưa, bàn thời cuộc, nói về học thuật, kể lại những chuyện vặt vãnh thường ngày, khi vui vẻ thì viết ra, lúc buồn thì không viết. Hoặc viết một bài dài, hoặc viết vài câu ngắn gọn, hoặc viết một cách khái quát, hoặc viết một cách cụ thể, tóm lại tùy theo hứng mà viết ra, không hề chịu bất cứ bó buộc nào mới có thể viết ra được hết toàn bộ tư tưởng của tôi.

Chúng ta dùng Hậu Hắc sử quan để nhìn nhận xã hội, xã hội sẽ trở thành một thể trong suốt, nếu đã nhìn thấy được chân tướng của xã hội, thì chúng ta có thể nghĩ ra cách cải tạo xã hội. Đối với các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao và các chế độ học tập… tôi đều có chủ trương. Nhưng những chủ trương này đều dựa vào cái mà tôi gọi là Hậu Hắc triết lý. Tùng thoại này của tôi có thể nói là vô cùng lộn xộn, giống như một ngọn núi lớn, khắp ngọn núi tràn ngập những loại côn trùng, chim thú, cây cối, đất đá…, không theo quy luật nào cả. Nhưng nếu không theo quy luật thì nó mới giống với trạng thái của thiên nhiên. Nếu sắp xếp nó theo trật tự đàng hoàng, có quy luật thì sẽ trở thành hình thức của công viên, tốt thì có tốt, nhưng có sự tham gia của nhân tạo, sẽ không khôi phục lại được bộ mặt vốn có của ngọn núi này. Tôi mang những kiến giải xấu hay tốt trong lòng mình đều nói hết ra cả, làm cho toàn bộ ngọn núi đều biểu hiện ra, kẻ có chí với đạo này, hãy chỉnh lý thêm, nếu không đủ thì bổ sung, nếu dư thừa thì lược đi, nếu sai sót thì sửa chữa. Mở mang thành công viên cũng được, sử dụng cây cối đất đá trên núi để xây một ngôi nhà cũng được, hay là bắt vài con chim tước, trồng một ít hoa cỏ, mang về nhà ngắm nghía cũng được. Nếu có thể khai thác khoáng vật với quy mô lớn thì càng tốt. Ngoài ra còn đào một ít thuốc trên núi để chữa bệnh, nhặt một ít phân chó trâu bò để làm phân bón, như thế cũng chưa chắc là không tốt. Tôi phát minh ra Hậu Hắc Học, cũng giống như Watt phát minh ra hơi nước, người đời sau đem đi kéo sợi dệt vải, điều khiển tàu thuyền, tàu hỏa, xây dựng ngành công nghiệp nào cũng được. Hậu Hắc triết lý của tôi, nhất định phải thực hiện, người thâm thúy thì nhìn kiến giải sâu xa, kẻ nông cạn thì kiến giải thô thiển. Nếu có được sự nhất thể, mở rộng ra thêm thì có thể thành lập một phái riêng. Khổng giáo chia làm nhiều phái, Phật giáo cũng có rất nhiều phái, sau này Hậu Hắc Học của tôi cũng sẽ chia thành nhiều phái như vậy.

Sáng tác hoàn toàn dựa vào cảm hứng, nếu cảm hứng đến thì hạ bút nhanh thoăn thoắt, vừa thoáng qua thì biến mất. Khi tôi viết bài, trích dẫn việc gì hoặc học thuyết nào, nếu trên bàn không có sách này thì dùng cách “chắc là như vậy” của Tô Đông Pha, mang máng mơ hồ mà viết ra, để tránh làm cụt hứng. Việc viết loại văn này khác với nói về khảo chứng, chính là trong lòng có một kiến giải, vô căn cứ, không có cách nào để bắt đầu, đành giống như sử dụng làm công cụ vậy, lấy của người khác để dùng một cách ngẫu nhiên, nếu không có điển cố, thì hư cấu nên một chuyện để dùng, cũng chẳng sao cả.

Lời nói ẩn  ý của Trang Tử chính là trong lòng ông ta đã có kiến giải, chỉ mượn côn bằng ngựa hoang, dân chày đạo chích để viết, chỉ mong có thể biểu đạt được hết những thứ trong lòng. Còn về côn bằng, ngựa hoang có phải là có vật này không, dân chày đạo chích có phải có người này hay không đều không cần hỏi. Trong lòng có kiến giải, tự làm chủ vậy. Côn bằng ngựa hoang, dân chày đạo chích đều mang nghĩa hàm ẩn cả. Mạnh Tử nói: “Người làm thơ, không nên gò bó câu chữ mà lý giải sai ý nghĩa vốn có, nên dùng sự thể nghiệm của bản thân mình để suy đoán ý của tác giả”. Đọc thơ là như vậy, đọc Trang Tử đương nhiên cũng phải như vậy, đọc Hậu Hắc Học cũng phải như vậy.

Người xưa nói rằng: “Văn Vương Chu Công, nhiều lần xem quẻ, căn cứ vào kết quả trên quẻ bói, thu được hiện tượng bên ngoài, cũng ngẫu nhiên biết được nguyên do thay đổi của vạn vật, nếu như động tác bói toán của ông có thay đổi, thử bói quẻ lại, thì nguyên nhân thay đổi của vạn vật so với kết quả ông biết được có thay đổi chút ít, vậy thì hiện tượng bên ngoài mà ông có được thông qua kết quả bói toán cũng có chút khác biệt”. Mưu sĩ chiến quốc, giống như bọn Tô Tần, thường ngày nghiên cứu nhân tình thế thái một cách thành thạo, từ đó xuất hiện người đi du thuyết, tùy tiện trích ra một câu chuyện, hoặc thiết lập nên một giả dụ, thú vị vô cùng, nói làm đâu ra đấy, cách làm của nó và ẩn ý của Trang Công, kết quả xem quẻ không có sự khác biệt. Tống Nho khi mới học Nho thư, sau đó ra vào Phật lão, nghiên cứu kỹ lưỡng, tư tưởng đã có hệ thống, sau đó trở về chú giải cho sách của Khổng Tủ, dùng để nói rõ lý lẽ trong lòng của mình, thế là nhiều sách của Khổng Môn đều trở thành côn bằng ngựa hoang và dân chày đạo chích của Tống Nho. Các nhà khảo chứng đời Thanh căn cứ vào những ý nghĩa cơ bản trong sách cổ, từng chữ từng chữ chế nhạo, giải thích ý nghĩa vốn có của nó, đạo lý mà Tống Nho đã nói cũng chưa chắc không phải. Khi Phương Cửu Cao xem ngựa, không quan tâm đến vẻ bề ngoài. Người biết được ý nghĩa này, ban đầu có thể đọc “Tứ Thư tập chú” của Chu Tử. Không giống như bọn Mao Tây Hà không chịu tỉnh ngộ, nói luyên thuyên. Than ôi, trong giới Hậu Hắc, những người như Phương Cửu Cao sao lại quá ít, những kẻ như bọn Mao Tây Hà sao lại nhiều như vậy!

Người nghiên cứu Tống học, không thể rời xa được Tống Nho ngữ lục. Ngữ lục là những hgi chép của các môn đồ, có rất nhiều điều không đáng tin cậy. Vương Học đời nhà Minh được mệnh danh là cực thịnh, khi đó những bản viết tay về Âm Dương không nhiều, nên muốn tìm đến học Vương thị, chỉ tìm được Truyện tập lục và bản ghi chép của nhóm Long Khê, những điều chưa được xác minh về thiên tuyền chính đạo. Tôi thường nói “tứ có tứ vô”, nếu Âm Dương có thể tự mình viết ra, sao không ít đi những tranh chấp? Đại Học có 4 chữ “cách vật chí tri”, có rất nhiều cách giải thích khác nhau. Giả như các tăng tử khi ghi chép lời của Khổng Tử, thêm vào vài câu giải thích phía sau, không những sẽ không có các cách giải thích khác nhau này, mà còn sẽ không có sự tranh chấp giữa Chu học và Vương học. Tôi có một người bạn họ Vương sống ở Trùng Khánh, anh ta nói với tôi rằng: “Anh trò chuyện rất thu hút, ngày nào đó tôi sẽ mời thêm vài người bạn đến cùng trò chuyện với anh, rồi ghi chép lại những gì anh nói”. Tôi nghe xong, giật mình, nếu cứ như vậy, không phải sẽ trở thành ngũ lục của những nhà Nho thời Tống Minh hay sao? Vạn nhất có một học trò, bắt chước bút pháp của Đại Học, viết ra một cách sơ sài đơn giản, sau này trong Hậu Hắc Học, há chẳng phải sẽ có tranh chấp sao? Thế là tôi vội bắt chướng cách làm của “Đam đại công”, viết ngữ lục lấy tên là “Hậu Hắc tùng thoại”, xin miễn nói chuyên riêng nhằm biểu thị ý đại đạo vô tư. Sau này có người nói: “Chính tai tôi nghe Hậu Hắc giáo chủ nói như thế”, các người tuyệt đối không được nhẹ dạ cả tin. Tôi tuyên bố như vậy, tuyệt đối không thể có thiên tuyền chính đạo nữa. Mỗi khi tôi giảng một đạo lý, lúc nào cũng giải thích nhiều lần, thà lặp lại nhiều lần, chứ không thể giản lược, người đời sau sẽ không giống như 4 chữ “cách vật chí tri”, sinh ra rất nhiều cách giải thích kỳ lạ.

Có người hỏi tôi: “Tùng thoại này của ông, ông nói nội dung của nó bao gồm Hậu Hắc sử quan, Hậu Hắc triết lý, ứng dụng cảu Hậu Hắc Học, phép biện chứng của Hậu Hắc Học và lịch sử phát minh Hậu Hắc Học, tổng cộng 5 bộ. Ông không phân loại chúng mà viết ra, thì những người nghiên cứu về môn học này, chẳng phải sẽ lóa mắt không phân biệt nổi sao? Há chẳng phải cố ý làm cho họ tổn hao tinh thần nữa sao?” Tôi nói: “Nếu muốn nghiên cứu học vấn chuyên môn này, đương nhiên phải dốc sức để nghiên cứu Thập tam kinh và Nhị thập Tứ sử của Trung Quốc, nếu học qua loa, chẳng phải là lóa mắt không phân biệt nổi, lộn xộn đó sao? Hơn nữa, học giả chân chính sẽ tìm ra đầu mối trong đống lộn xộn này. Nếu sợ phải bỏ công sức, thì không nên luyện tập môn học vấn này. Tôi chỉ vạch ra nguyên tắc và dàn ý địa cương, kẻ có chí với đạo này, đầu tiên nên tìm hiểu thêm, sau đó tiến hành biên soạn, tạo thành một quyển sách giáo khoa, như thế đạo nào sẽ được phổ biến rộng rãi.Vì vậy, việc phân môn chia lại, nói lần lượt từng cái chính là trách nhiệm của những môn đồ đến học và những đệ tử tự nhận mình là học trò, chứ không phải là nhiệm vụ của tôi”.

Trong lòng tôi có rất nhiều kiến giải, không biết rốt cuộc là đúng hay sai, đặc biệt viết ra, xin người đọc phản bác lại, phản bác càng nghiêm, tôi càng hoan nghênh. Tôi sẽ giải thích lại đống nghi hoặc trong lòng mình, hoàn toàn không phải là muốn sáng tạo ra học thuyết khác thường. Nếu các vị có bài phản bác, xin hãy đăng lên báo, tôi luôn nghiên cứu một cách tỉ mỉ, nếu thấy phản bác đúng, tôi sẽ tự sửa đổi, nếu thấy không đúng, tôi sẽ không trả lời, để tránh phải biện luận tranh chấp. Tôi là người chủ trương tư tưởng độc lập, tận đáy lòng tôi tuyệt đối không chịu áp lực của bất cứ người nào, đồng thời tôi cũng tôn trọng tư tưởng độc lập của người khác, cho nên, việc vặn hỏi bài văn của tôi, tôi sẽ không trả lời. Hậu Hắc sử quan và Hậu Hắc triết lý của tôi, nếu bị người khác lật đổ, tôi xin nhường cho người đó là Hậu Hắc giáo chủ, quỳ bái trước cửa của hắn mà xưng là đệ tử. Sao lại như vậy? Vì tuân theo chân lý mà thôi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB ĐN 2010.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s