Sự kết thúc của chủ nghĩa đa văn hóa? Nhập cư và sự hòa nhập ở Đức và Vương quốc Anh – Phần II


Về nghĩa mô tả của chủ nghĩa đa văn hóa, có vẻ như nó rất giống với thuật ngữ “xã hội đa sắc tộc”. Một số người còn cho rằng, nên giảm bớt lối nói khoa trương của chủ nghĩa đa văn hóa theo hướng thuật ngữ không tới mức gây tranh cãi là chủ nghĩa đa nguyên (pluralism). Vì vậy, một số định nghĩa về xã hội đa sắc tộc cũng có thể nói đến chủ nghĩa đa văn hóa. Một trong số định nghĩa sẽ được sử dụng trong luận án này là sự mô tả phong phú và thích hợp nhất về vấn đề được thảo luận tới. Xã hội đa văn hóa, vì vậy, là một xã hội có “sự pha trộn giữa các dân tộc… vì họ pha trộn chứ không kết hợp. Mỗi nhóm đều có tôn giáo riêng, văn hóa và ngôn ngữ riêng, các ý niệm và lề thói riêng của họ. Với tính chất là các cá nhân, họ gặp nhau, nhưng chỉ ở chợ, để mua và bán. Đó là một xã hội đa sắc tộc, với các nhóm khác nhau trong cộng đồng sống bên cạnh nhau, nhưng tách biệt, trong cùng một thực thể chính trị”.

Đáng chú ý là, định nghĩa này được John S. Furnivall đưa ra để mô tả Myanmar, một trong những thuộc địa cũ của Anh. Sau nửa thế kỷ, bức tranh này liên quan tới tình huống của các nước hậu thuộc địa như Anh hay Pháp. Chiều hướng của các dòng di cư đổi chiều. Trong khi, trước kia, đó là những người châu Âu đến với tư cách là người nước ngoài, thì nay đó là những công dân của các khu vực hậu thuộc địa nhập cư vào các nước cựu thực dân của họ.

Người ta cũng có thể nói rằng, cách hiểu theo nghĩa mô tả này về chủ nghĩa đa văn hóa, vốn là nét đặc trưng của những xã hội mà các cộng đồng khác nhau trong đó sống “cạnh nhau nhưng tách biệt” – là kết quả của khái cạnh mang tính quy chuẩn. Nói cách khác, những chính sách nào đó (hoặc không có chúng) khuyến khích các nhóm nhập cư ở cạnh nhau và không coi bản thân họ là một phần của xã hội nước chủ nhà. Anh và Đức được gọi là các xã hội đa văn hóa, mặc dù con đường của họ khác nhau hoàn toàn cả về dòng nhập cư lẫn chính sách. Để hiểu tại sao gần đây người ta lại đặt câu hỏi về chủ nghĩa đa văn hóa như là “sự khoan dung tự do” được thể hiện trong các chính sách, chúng ta chỉ cần nhìn vào kinh nghiệm của cả hai nước này. Cả hai nước sẽ được bàn luận kỹ hơn trong phần chính của luận án, các trình bày ngắn gọn được đưa ra ở đây nhằm mục đích trả lời câu hỏi: đâu là con đường dẫn tới chủ nghĩa đa văn hóa của Anh và Đức.

Ba thập kỷ trước, Vương quốc Anh là một nơi khác với ngày nay. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc diễn ra hết sức mạnh mẽ và phổ biến. Các cuộc tấn công bạo lực vào người nhập cư từ những khu vực hậu thuộc địa chẳng hạn như châu Á và vùng Caribean diễn ra phổ biến. Sự phân biệt đối xử và bất bình đẳng ở nơi làm việc là căn bệnh địa phương. Thái độ hung bạo của cảnh sát đối với các tộc người thiểu số là hết sức nổi tiếng. Tất cả gây ra sự tức giận và nỗi thất vọng ngày càng tăng dẫn tới hàng loạt bạo loạn diễn ra ở London, Liverpool, Bristol, Brixton và các thành phố khác vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80. Các nhà chức trách địa phương thừa nhận tình huống này là hiểm họa và mối đe dọa đối với trật tự và sự ổn định của xã hội. Trong bối cảnh này, các chính sách chủ nghĩa đa văn hóa được đưa ra. Chúng bao gồm một loạt các chiến lược khác nhau về sự bình đẳng, chẳng hạn như thành lập các đơn vị liên quan tới vấn đề chủng tộc hay tài trợ cho tổ chức tộc người thiểu số. Chủ nghĩa đa văn hóa được đưa vào chương trình giảng dạy trong trường học như là một chương trình tạo cơ hội dạy cho trẻ em về những dấu hiệu nhận biết của các nền văn hóa khác như trang phục, ẩm thực hay âm nhạc (một việc mà sau này bị chỉ trích là hội chứng thiển cận “3S”: “trang phục sari, bánh gối và trống thép”). Các chính sách đa văn hóa không có nghĩa là giúp các tộc người thiểu số phát triển bản sắc Anh hay chấp nhận các tiêu chí và truyền thống của đất nước này. Mà đúng hơn là chúng trao cho họ quyền duy trì bản sắc của chính họ, lịch sử đất nước cội nguồn của họ và theo đuổi cách sống của riêng họ. Những khác biệt của họ còn được nhấn mạnh và tái khẳng định. Những người được coi là lãnh đạo cộng đồng của họ được đối xử như là những người đại diện cho các cộng đồng của họ – mặc dù những người này thường có quan điểm bảo thủ. Cũng có nhiều phong trào cấp tiến hơn song không được coi là mang tính đại diện. Người Hồi giáo thường bị gắn liền với những người có quan điểm cực đoan hơn là với chủ nghĩa thế tục – và điều đó không thay đổi nhiều lắm. Theo đó, các chính sách đa văn hóa – nổi lên như là sự phản đối các bất bình đẳng không đáng về chủng tộc – thúc đẩy sự đa dạng mà nghịch lý là lại khẳng định các tộc người thiểu số như là những “người khác” chứ không phải là một phần của “bản sắc Anh”. Nó góp phần tạo ra những tình cảm cực đoan hơn ở những người Hồi giáo mà, ở chừng mực nào đó, dẫn tới các vụ rắc rối như các cuộc bạo loạn chẳng hạn giữa các cộng đồng người Banglades và Pakistan ở ba thành phố phía bắc vào năm 2001 và dẫn tới các cuộc đánh bom London vào năm 2005. Chủ nghĩa đa văn hóa được cho là nhân tố tạo ra không gian cho sự quá khích như vậy ở các tộc người thiểu số và, quay trở lại tuyên bố của Thủ tướng Anh Cameron, “khuyến khích các nền văn hóa khác nhau sống tách biệt nhau”, một việc mà ông cho là nuôi dưỡng các hệ tư tưởng quá khích.

Phản ứng của Đức đối với những người nhập cư thời hậu chiến lại khác. Không giống như Anh, các dòng nhập cư chủ yếu vào Đức không phải là kết quả của quá trình phi thực dân hóa mà là do sự thiếu hụt nhân công mà Đức phải đối mặt trong những thập kỷ thời hậu chiến. Nguồn nhân lực nước ngoài được tuyển chọn ồ ạt từ vài nước như Italy, Tây Ban Nha và Hy Lạp, và sau đó là Thổ Nhĩ Kỳ. Cả những người lao động lẫn nước tiếp nhận đều coi đó là sự di cư ngắn hạn – vì vậy, họ được gọi một cách đầy ý nghĩa là: Gastarbeiter (công nhân nhập cư), lao động nước ngoài vãng lai (guest worker). Tuy nhiên, nhiều người trong số đó không quay trở về nhà, và như vậy, họ tạo thành các tộc người thiểu số ở đất nước tự nhận là nước không nhập cư. Đức không trở thành một xã hội đa văn hóa bằng bất kỳ “chính sách đa văn hóa” nào giống như Anh, mà do không có bất kỳ chính sách vững chắc nào về các tộc người thiểu số. Người Thổ Nhĩ Kỳ và những người nhập cư khác được phép ở lại song bị coi là người nước ngoài, có quyền giữ lại nền văn hóa riêng của họ chừng nào họ không gây ra vấn đề gì. Kết quả là, họ không được khuyến khích hội nhập mà trở nên xa cách với xã hội chủ đạo. Ở Đức, chủ nghĩa đa văn hóa diễn ra một cách vô định, nó đúng hơn là kết quả của sự phủ nhận quyền công dân của những người nhập cư. Có thể nói rằng, dựa vào cơ sở thiếu chiến lược đa văn hóa này, nhận xét của bà Merkel về sự thất bại của “multikulti” (chủ nghĩa đa văn hóa) nghe thật mỉa mai.

Phần 1: Đức

Trọng tâm của các đặc trưng tính dân tộc Đức chủ yếu nằm ở ý niệm về nguồn gốc chung: tính dân tộc Đức được hiểu là vấn đề giống nòi/dòng dõi. Vì vậy, sự định cư của những người di cư thuộc các nhóm sắc tộc khác sau Thế chiến thứ II dẫn đến những quan ngại sâu sắc của người dân. Mô hình chính của sự di cư dựa trên nền tảng “đa văn hóa” của xã hội Đức ngày nay được gắn với kinh tế. Quá trình công nghiệp hóa và sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong những thập niên sau chiến tranh làm nảy sinh nhu cầu to lớn về nhân công, dẫn tới các chính sách lao động nước ngoài vãng lai. Người ta cho là các công nhân nước ngoài vãng lai sẽ quay trở về đất nước cội nguồn của họ và nước Đức, theo dự kiến, sẽ trở thành một đất nước thuần chủng như nó tự coi mình trước kia. Tuy nhiên, những người nước ngoài không chỉ ở lại mà còn mang cả gia đình của họ tới Đức. Bằng cách này, Đức gàn đây phải đương đầu với đòi hỏi cấp bách về khái niệm của nhà nước tự do hiện đại là xây dựng lại ý niệm của nó về quyền công dân, cho đến nay, dựa vào dòng dõi. Nói cách khác, Đức phải thừa nhận rằng vì Đức là nước nhập cư nên mọi người phải được ghép trở thành nước Đức cho dù không có nguồn gốc Đức. Mặc dù chủ nghĩa đa văn hóa chưa bao giờ nhận được sự tán thành hoàn toàn của người dân và thậm chí gần đây bị cáo buộc là đã thất bại, như đã đề cập ở phần giới thiệu, song động thái hiện nay của chính phủ là hướng tới một chính sách hòa nhập rõ ràng.

Chương này mô tả quá trình đầy thách thức mà Đức trở thành một xã hội đa dạng về sắc tộc, và chủ yếu đề cập đến những tranh cãi được dấy lên ở khắp nước Đức. Phần đầu sẽ tìm hiểu lịch sử di cư tới Đức sau Thế chiến thứ II, tập trung vào những nhóm nhập cư lớn và thái độ của người dân đối với họ. Phần thứ hai trình bày quá trình thay đổi các chính sách đồng hóa ở Đức và sự hòa nhập của những người dân có nguồn gốc di cư vào lĩnh vực giáo dục và kinh Đức. Phần 3 tập trung vào quan điểm của xã hội về những người nhập cư và tác động của họ tới xã hội Đức, chỉ ra những mối quan ngại lớn nhất về những người nhập cư và thảo luận về chúng dựa trên cơ sở số liệu thống kê và các quan điểm của chính phủ.

(còn tiếp)

Người dịch: Thái Hà

Nguồn: Laura Muchowiecka – The End of Multiculturalism? Immigration and Integration in Germany and the United Kingdom – The International Student Journal, Vol 5, No 06, 2013.

TN 2014 – 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s