Luận thuyết Khinh Trọng – Phần VIII


Cũng trong cuốn sách nêu trên, W. Lawrence Newman đã ghi nhận một số đặc điểm chung của ba cách tiếp cận thực chứng luận, diễn giải luận phê phán luận như sau:

1/ Đều mang tính thực nghiệm. Mỗi cách tiếp cận đều có nguồn gốc từ thực tế quan sát được về cách nhìn, các hành vi, các tình huống, thảo luận, và hành động của con người. Nghiên cứu không bao giờ chỉ dựa vào hư cấu và tưởng tượng.

2/ Đều có tính hệ thống. Mỗi cách tiếp cận đều nhấn mạnh việc nghiên cứu tỉ mỉ và kỹ lưỡng. Cả ba cách tiếp cận đều không chấp nhận những suy nghĩ và quan sát ngẫu nhiên, kém chất lượng.

3/ Đều có tính lý thuyết. Bản chất của các lý thuyết là khác nhau, nhưng tất cả đều nhấn mạnh vào việc sử dụng các tư tưởng và xem xét các mô hình. Không cách tiếp cận nào cho rằng xã hội là hỗn độn và vô trật tự; cả ba cách tiếp cận đều cho rằng giải thích hay tìm hiểu là có thể được.

4/ Đều mang tính công khai. Cả ba cách tiếp cận đều nói rằng tác phẩm của nhà nghiên cứu cần phải thẳng thắn thể hiện trước các nhà nghiên cứu khác; nó cần phải có tính công khai và chia sẻ được. Cả ba cách tiếp cận đều phản đối việc giấu giếm, giữ làm của riêng hay giữ bí mật quá trình nghiên cứu.

5/ Đều có tính tự suy ngẫm. Các cách tiếp cận này đều nói rằng nhà nghiên cứu cần suy nghĩ về cái mình làm và phải tự ý thức được về điều đó. Không bao giờ được làm nghiên cứu một cách mù quáng hay không có suy nghĩ. Điều này bao hàm cả việc suy tính một cách nghiêm túc và đòi hỏi việc tự ý thức.

6/ Đều là quá trình mở. Cả ba cách tiếp cận đều coi nghiên cứu là quá trình liên tục vận động, tiến triển, thay đổi, đặt câu hỏi mới, và đi theo chỉ dẫn. Không cách tiếp cận nào cho rằng nghiên cứu là tĩnh, cố định hay khép kín. Tri thức hiện thời hay các tiến trình nghiên cứu không phải là được khắc trên đá và cố định. Chúng thay đổi liên tục và luôn mở ra những cách nghĩ và cách làm mới.

Do vậy, mặc dù các cách tiếp cận này là khác nhau, nhưng chúng đều cho rằng khoa học xã hội cố gắng tạo ra những tri thức có tính lý thuyết dựa trên thực nghiệm và được thu thập một cách có hệ thống thông qua các quá trình xã hội, mang tính tự suy ngẫm và mang tính mở (W. Lawrence Newman, 2005: 104).

Khái niệm cơ sở lý thuyết

Cấu trúc của lý thuyết

Theo Edgar Morin cấu trúc của hệ thống tư tưởng nói chung bao gồm 3 thành phần chủ yếu sau đây:

a/ Một hạt nhân (gồm các tiên đề làm cho hệ thống có tính chính thống, quy tắc cơ bản về tổ chức, tư tưởng cốt lõi); đôi khi là một thể phức hợp đa – nhân khi hệ thống gộp trong bản thân nhiều hệ thống trước đó vẫn độc lập nay đưa vào địa bàn mới và trở thành phân hệ;

b/ Những phân hệ/phụ thuộc qua lại, trong đó các phân hệ ngoại biên hơn hết cấu thành nhất thời một vành đai an toàn;

c/ Một phương tiện miễn nhiễm (immunologique) để tự bảo vệ (E. Morin, 2008: 272).

Cấu trúc riêng của một lý thuyết với tư cách là một hệ thống tư tưởng bao gồm 2 thành phần chủ yếu:

1/ Cơ sở riêng (= hạt nhân) của lý thuyết bao gồm hai thành tố:

+ Các khái niệm cơ bản,

+ Các định đề cơ bản (các tiên đề hay các nguyên lý).

2/ Quá trình triển khai cơ sở riêng thành hệ thống lý thuyết dựa vào sự vận dụng logic (luận lý) và bằng chứng thực tiễn; quá trình này bao gồm các thành phần như:

+ Các hệ quả lý thuyết,

+ Các lý thuyết chuyên biệt,

+ Các ứng dụng lý thuyết trong các lĩnh vực đối tượng khác nhau của tự nhiên, xã hội và tư duy.

Như vậy, cấu trúc riêng đầy đủ (hoàn chỉnh) của một lý thuyết phải có 3 thành phần:

1/ Lập thuyết (xác lập cơ sở riêng của lý thuyết),

2/ Luận thuyết (tiến hành biện luận theo logic lý thuyết và tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm nói riêng, thực tiễn nói chung),

3/ Dụng thuyết (triển khai vận dụng lý thuyết trong phạm vi sức mạnh và khả năng của lý thuyết đó).

Cấu trúc mở rộng của một lý thuyết bao gồm cấu trúc riêng của lý thuyết và 2 thành phần bổ sung khác làm nền tảng cho lý thuyết, đó là:

+ Cơ sở thực tiễn của lý thuyết (bao gồm cả kinh nghiệm thông thường và thực nghiệm khoa học),

+ Cơ sở lý thuyết của lý thuyết (= siêu lý thuyết của lý thuyết đã cho, chẳng hạn như cơ sở triết học của các lý thuyết xã hội học).

Cơ sở lý thuyết

Cơ sở lý thuyết của một lý thuyết không phải là toàn bộ hệ thống lý thuyết mà chỉ là nền tảng lý thuyết của lý thuyết đó, bao gồm:

1/ Cơ sở riêng = hạt nhân của lý thuyết, với 2 thành tố: 1.1 – Các khái niệm cơ bản; 1.2 – Các định đề cơ bản,

2/ Cơ sở siêu lý thuyết của lý thuyết đó.

Cơ sở lý thuyết của lý thuyết khinh – trọng

“Lý thuyết khinh – trọng, với tư cách là một khung lý thuyết mới mang tính phổ quát, phổ dụng sẽ có cơ sở riêng = hạt nhân của nó bao gồm 3 thành phần: 1 – Các khái niệm cơ bản, 2 – Các định đề cơ bản và 3 – Cơ sở logic khinh – trọng, hướng dẫn quá trình luận thuyết và dụng thuyết khinh – trọng. Ngoài ra, do đặc điểm tự phản tư của nó, cơ sở riêng của lý thuyết khinh – trọng sẽ trở thành cơ sở siêu lý thuyết của chính nó. Điều đó có nghĩa rằng lý thuyết khinh – trọng có đặc trưng kép: vừa là lý thuyết vừa là siêu lý thuyết”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Tô Duy Hợp – Khinh Trọng, Tập 1 – NXBTG 2007, Tập 2 – NXB TG 2012, Tập 3 – NXB KHXH 2019.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s