Cục diện chính trị Mỹ và cuộc bầu cử 2020 – Phần II


Xu thế kinh tế vĩ mô là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của cuộc bầu cử. Nhìn chung, tình hình kinh tế vĩ mô của năm bầu cử càng tốt thì cơ hội chiến thắng cho các ứng cử viên thuộc đảng của tổng thống đương nhiệm càng lớn, và ngược lại thì xác suất thất bại càng cao. Ví dụ điển hình nhất là việc tái tranh cử của George H.W. Bush năm 1992, dù khi đó Mỹ chiến thắng trong Cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, nhưng kinh tế trong nước suy thoái, khiến ông cuối cùng thất bại trước Bill Clinton. Hai học giả chính trị Mỹ đã xây dựng một mô hình dự đoán, mô hình này chỉ có hai biến số, cụ thể là tốc độ tăng trưởng của Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) trong quý I và II của năm bầu cử và tỷ lệ ủng hộ tổng thống đương nhiệm theo cuộc thăm dò của Gallup trong tháng 7 cùng năm, mô hình này đã dự đoán chính xác kết quả của 15/18 cuộc bầu cử tổng thống kể từ năm 1948. Theo mô hình này, giả sử rằng tỷ lệ ủng hộ trung bình của Trump trong tháng 7 là 40% và tốc độ tăng trưởng GNP trung bình trong hai quý đầu năm 2020 là 0,4%, thì tỷ lệ phiếu bầu ông giành được chỉ là 0,468%. Ngay cả khi tính đến lợi thế tự nhiên của đảng Cộng hòa trong Đại cử tri đoàn, tỷ lệ này không đủ để ông tác đắc cử. Tuy nhiên, bất kỳ mô hình thống kê nào cũng có sai số, hơn nữa mô hình này đã loại trừ một số yếu tố quan trọng khác, đặc biệt là tác động của dịch COVID-19 đối với hành vi bỏ phiếu của cá nhân, vì vậy kết quả dự đoán chỉ có thể được sử dụng để tham khảo.

Hiện tượng chia rẽ xã hội và phân cực chính trị chưa từng thấy trong một thế kỷ qua

Nếu tiến hành một cuộc khảo sát đối với các học giả, nhà báo hoặc nhà phân tích người Mỹ và yêu cầu họ dùng một từ để mô tả xã hội Mỹ hiện tại, thì từ đó chính là “chia rẽ”; nếu dùng một từ để mô tả nền chính trị Mỹ hiện tại, thì từ đó chính là “phân cực”. “Không có lửa thì sao có khói”, hiện tượng chia rẽ xã hội và phân cực chính trị hiện nay không phải hoàn toàn do Chính quyền Trump gây ra, mà nhiệm kỳ 4 năm của Trump chỉ “đổ thêm dầu vào lửa”, khiến sự phân cực chính trị và chia rẽ xã hội đạt đến mức chưa từng thấy trong một thế kỷ qua.

Sự chênh lệch giàu nghèo là yếu tố quan trọng dẫn đến sự chia rẽ xã hội, nước Mỹ hiện đang trong tình trạng chênh lệch giàu nghèo chưa từng thấy trong một thế kỷ qua. Theo nghiên cứu của nhà kinh tế người Pháp Thomas Piketty, năm 1810, 1% dân số thuộc nhóm giàu của Mỹ chiếm khoảng 26% tổng thu nhập cả nước, và đạt mức cao nhất trong lịch sử (khoảng 45%) vào năm 1910, kể từ đó có một sự sụt giảm đáng kể nhưng vẫn ở mức cao khoảng 35% vào năm 2010. Theo số liệu của Cục thống kê quốc gia, năm 2018, 20% dân số thuộc nhóm giàu chiếm 52% tổng thu nhập quốc dân, trong khi 60% dân số thuộc tầng lớp dưới trung lưu chỉ chiếm 25,5% tổng thu nhập quốc dân. Hệ số Gini (thước đo mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập) của Mỹ năm 2018 là 0,49, xấp xỉ mức 0,51 của năm 1910 và có xu hướng tiếp tục tăng, điều này cho thấy sự chênh lệch giàu nghèo ở Mỹ một lần nữa đã bước vào vùng nguy hiểm. Các cuộc thăm dò cho thấy hầu hết người Mỹ cũng nhận thức được khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng và bày tỏ mối quan ngại sâu sắc. Trong một cuộc thăm dò dư luận năm 2015, 61% số người được hỏi cho rằng khoảng cách giàu nghèo đang tăng thêm, và 65% số người được hỏi ủng hộ việc ngay lập tức thực hiện các biện pháp đối phó với sự chênh lệch giàu nghèo. Phong trào Chiếm Phố Wall nổ ra năm 2011 là biểu hiện bất mãn cực độ của người dân Mỹ nói chung đối với sự chênh lệch giàu nghèo trong thời gian dài.

Một yếu tố quan trọng khác gây ra sự chia rẽ của xã hội Mỹ là chính trị bản sắc. Cho dù đó là phong trào dân quyền, chủ nghĩa đa văn hóa, chủ nghĩa nữ quyền, quy định chống phân biệt đối xử, đúng đắn chính trị và bình đẳng về xu hướng tính dục nổi lên vào những năm 1960, hay phong trào Black Lives Matter nổi lên vào năm 2013, có thể nói đều thuộc về chính trị bản sắc. Trong ngôn từ chính thống của Mỹ, chính trị bản sắc là chỉ dấu cuộc đấu tranh của các nhóm thiểu số dựa trên các yếu tố như chủng tộc, dân tộc, tôn giáo và xu hướng tình dục để giành lại sự tôn trọng và được đối xử công bằng từ các nhóm chính thống. Vào ngày 25/5, một người đàn ông da đen ở Minneapolis – bang Minnesota đã bị một cảnh sát da trắng ghì cổ đến chết, sự việc này đã dẫn đến một cuộc biểu tình chống phân biệt chủng tộc quy mô lớn đã nổ ra ở Mỹ và vẫn tiếp diễn cho đến nay, đây chính là một biểu hiện của chính trị bản sắc người Mỹ gốc Phi. Tuy nhiên, cuộc biểu tình này đã dẫn đến phong trào giật đổ hàng loạt tượng của các nhân vật lịch sử được cho là có liên quan đến phân biệt chủng tộc. Trước sức ép của một số người biểu tình quá khích, bức tượng của cựu Tổng thống Mỹ Roosevelt buộc phải di dời khỏi Bảo tàng lịch sử tự nhiên ở New York, và Trường chính sách công và ngoại giao Woodrow Wilson thuộc Đại học Princeton đã buộc phải xóa tên của cựu Tổng thống Woodrow Wilson khỏi danh sách sinh viên của trường.

Việc giải quyết triệt để những vấn đề trong lịch sử nước Mỹ này chắc chắn sẽ dẫn đến sự chia rẽ hơn nữa trong xã hội Mỹ. Người da trắng gốc châu Âu cũng có những yêu cầu tương tự về chính trị bản sắc, tiếp nối phong trào Black Lives Matter là phong trào White Lives Matter. Theo quan điểm của họ, phe chủ nghĩa tự do với thành trì là đảng Dân chủ đã quan tâm quá nhiều đến quyền lợi của các nhóm thiểu số trong nhiều năm, trong khi xem nhẹ quyền lợi của các nhóm người da trắng. Chẳng hạn như phong trào chống phân biệt đối xử đối với nhóm thiểu số là một sự kỳ thị ngược lại đối với người da trắng, tính đúng đắn chính trị đã hạn chế quyền tự do ngôn luận của người da trắng trong các vấn đề chủng tộc, chủ nghĩa đa văn hóa đã khiến văn hóa và giá trị quan cảu tín hữu Tin Lành người Mỹ da trắng gốc Anh dần bị xói mòn. Chính trị bản sắc của người da trắng không những củng cố sự đoàn kết nội bộ của người da trắng, mà còn khiến sự căm ghét chủng tộc của các cử tri da trắng gia tăng rõ rệt. Một yếu tố quan trọng tạo nên chiến thắng bất ngờ của Trump vào năm 2016 là lập trường chống nhập cư của ông đã thu hút một lượng lớn cử tri da trắng quan ngại về vấn đề này.

Dưới tác động kép của sự chênh lệch giàu nghèo và chính trị bản sắc, xã hội Mỹ đang phải đối mặt với sự chia rẽ chưa từng thấy trong một thế kỷ qua, và Mỹ do đó bị gọi là “một nước Mỹ chia rẽ”. Sự chia rẽ xã hội tất yếu sẽ dẫn đến sự phân cực chính trị, hay nói cách khác, biểu hiện về mặt chính trị của sự chia rẽ xã hội đã bị phân cực. Theo cơ chế lưỡng đảng ở Mỹ, sự phân cực chính trị được biểu hiện ở tính đồng nhất cao độ trong nội bộ hai đảng, và tính không đồng nhất cao độ giữa hai đảng, có nghĩa là nội bộ mỗi đảng ngày càng đoàn kết và hai đảng ngày càng đối lập. Sự đoàn kết nội bộ của hai đảng trong quốc hội thường được đánhgiá bằng hai chỉ số: thứ nhất là “phiếu đoàn kết của đảng”, có nghĩa là đa số đảng viên của hai đảng giữ lập trường trái ngược nhau trong một cuộc ghi danh bỏ phiếu, chỉ số này đặc biệt nổi bật ở Hạ viện. Trong số tất cả các phiếu ghi danh năm 2017, số phiếu với lập trường trái ngược của đa số đảng viên hai đảng là 76%, mức cao nhất kể từ năm 1956. Chỉ số thứ hia là “chỉ số đoàn kết đảng phái” của mỗi nghị sĩ, tức là tỷ lệ tương đồng giữa lập trường của một nghị sĩ với đa số nghị sĩ trong đảng của họ trên tổng số phiếu ghi danh. “Chỉ số đoàn kết đảng phái” trung bình của các nghị sĩ hai đảng trong Hạ viện giai đoạn 2014 – 2017 đều vượt quá 90%, chỉ số này của các nghị sĩ đảng Dân chủ còn cao tới 95% vào năm 2019, cả hai con số đều ở mức kỷ lục kể từ năm 1956. “Chỉ số đoàn kết đảng phái” của hai đảng tại Thượng viện đều vượt quá 90% vào năm 2017, đây là mức cao chưa từng có và chỉ số này của đảng Cộng hòa còn đạt mức kỷ lục là 97%.

So với sự đoàn kết đảng phái, khoảng cách giữa hai đảng khó đánh giá hơn. Một số học giả đã tính điểm ý thức hệ của mỗi nghị sĩ trong mỗi khóa quốc hội dựa trên các phiếu ghi danh, mức điểm này thường nằm trong khoảng từ -1 đến 1, điểm càng lớn thì càng bảo thủ và ngược lại, càng nhỏ thì càng tự do. Từ đó tính được giá trị trung bình về ý thức hệ của hai đảng, và sự khác biệt tuyệt đối giữa hai mức trung bình là sự khác biệt ý thức hệ của hai đảng. Số liệu cho thấy, cuối thế kỷ 19, mức độ khác biệt về ý thức hệ giữa hai đảng trong Hạ viện là gần 0,84, mức đỉnh đầu tiên trong lịch sử Mỹ, sau đó giảm một mạch, chạm mức thấp nhất (khoảng 0,52) vào những năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Tuy nhiên, con số này tiếp tục tăng trở lại kể từ cuối những năm 1960, và đạt mức cao nhất lịch sử (khoảng 0,88) trong nhiệm kỳ đầu tiên của Obama năm 2016. Tình hình tại Thượng viện cũng tương tự như tại Hạ viện, cũng giảm dần sau khi đạt mức đỉnh đầu tiên vào cuối thể kỷ 19, sau đó tăng đều từ cuối những năm 1960, nhưng đến năm 2018 mới đạt mức cao nhất lịch sử.

Không chỉ tầng lớp tinh hoa chính trị, mà các cử tri phổ thông cũng có sự phân cực cao. Ấn tượng tốt về nhau giữa những người ủng hộ hai đảng đã giảm đáng kể. Cuộc thăm dò dư luận vào tháng 9/2019 cho thấy, 79% đảng viên Dân chủ không có thiện cảm với đảng viên Cộng hòa, trong khi tỷ lệ tương ứng giữa đảng viên Cộng hòa với đảng viên Dân chủ là 83%, tăng 23% và 25% so với kết quả khảo sát tháng 12/2016. Cuộc thăm dò dư luận này cũng cho thấy 77% đảng viên Cộng hòa và 72% đảng viên Dân chủ cho rằng “hai đảng không những không có sự đồng thuận về mặt chính sách mà trên nền tảng thực tế nói chung cũng không có sự đồng thuận”. Đồng thời, sự nhất quán về ý thức hệ của các cử tri phổ thông đã tăng lên đáng kể. Cuộc thăm dò dư luận năm 1994 cho thấy trong 10 câu hỏi về giá trị chính trị, 49% số người được hỏi giữ quan điểm bảo thủ về một nửa số câu hỏi và giữ quan điểm tự do về nửa số câu hỏi còn lại. Tuy nhiên, đến năm 2017, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 32%. Cuộc thăm dò dư luận năm 1994 cũng cho thấy đảng viên Cộng hòa trung lập bảo thủ hơn so với 70% đảng viên Dân chủ, trong khi đảng viên Dân chủ trung lập tự do hơn so với 64% đảng viên Cộng hòa, và 2 tỷ trọng này tăng lên 97% và 95% trong cuộc thăm dò dư luận năm 2017. Hai nhóm số liệu này cho thấy ý thức hệ và nhận thức chung về đảng phái của hầu hết người Mỹ đều rất nhất quán, hệ quả tất yếu là đảng Dân chủ đã trở thành thành trì của phe tự do, trong khi đảng Cộng hòa trở thành thành trì phe bảo thủ. Việc đảng viên Dân chủ giữ quan điểm bảo thủ và đảng viên Cộng hòa giữ quan điểm tự do chỉ còn là chuyện của lịch sử xa vời.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Quan hệ quốc tế hiện đại (TQ)

CVĐQT số 10/2020

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s