Bảo hộ hoa trái trí tuệ – Phần V


5/ Về bản quyền phát minh

a/ Đối tượng của bản quyền phát minh.

Bản quyền được dành cho những sản phẩm và công nghệ được phát minh sáng tạo trong mọi lĩnh vực kỹ thuật. Nó có đặc điểm: mới, hiếm thấy, có tính sáng tạo, có tính thực dụng hoặc có thể ứng dụng trong công nghiệp. Phải đăng ký mới được cấp giấy chứng nhận bản quyền.

Những trường hợp sau đây không được cấp giấy chứng nhận bản quyền: việc công bố hoặc sử dụng phát minh này sẽ vi phạm quy định về trật tự công cộng, vi phạm pháp luật, vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức được thừa nhận rộng rãi, vi phạm vệ sinh công cộng, hoặc trái với những nguyên tắc cơ bản về giá trị mà loài người tôn trọng; lý luận khoa học, phát minh khoa học, phương pháp toán học đã được phát hiện có cùng một hình thức trong các tài liệu và vật thể hác; các phương pháp điều trị y học cho người hoặc động vật; mọi thực vật hoặc động vật và quá trình sản xuất của chúng; sản xuất, ứng dụng và sử dụng vật chất hạt nhân, các vật chất được sản xuất theo phương thức hạt nhân.

b/ Quyền của người sở hữu bản quyền.

Người sở hữu bản quyền có quyền: không cho người thứ ba chế tạo, sử dụng, khi mình chưa đồng ý; không cho người khác chế tạo, sử dụng hoặc tiêu thụ sản phẩm bản quyền ấy hoặc sử dụng công nghệ bản quyền ấy vào mục đích thương mại hoặc công nghiệp; chuyển nhượng hoặc thừa kế quyền chuyển nhượng bản quyền ấy, ký hợp đồng cho phép sử dụng; khi nhà nước sử dụng bản quyền ấy, hoặc cấp phép cưỡng chế cho sử dụng bản quyền ấy thì được đòi đền bù hợp lý.

Những trường hợp ngoại lệ được phép sử dụng mà không có sự đồng ý của người sở hữu bản quyền là: quyền được ưu tiên sử dụng, sử dụng cho cá nhân hoặc không vì mục đích thương mại; nhà nước sử dụng.

c/ Nghĩa vụ của người sở hữu bản quyền

Trước khi được cấp giấy chứng nhận bản quyền phát minh, người sở hữu bản quyền phải trình bày rõ ràng, hoàn chỉnh cho người tinh thông kỹ thuật sử dụng phát minh ấy vào thực tiễn; cung cấp thông tin về việc xin cấp phép và tình hình được cấp phép ở nước ngoài; trong thời hạn quy định tại đạo luật trong nước, phải thực thi phát minh ấy trên lãnh thổ của nước ký hiệp định này.

d/ Thời hạn bảo hộ

Thời hạn bảo hộ bản quyền phát minh tối thiểu là 15 năm. Khuyến khích các nước tăng thời hạn bảo hộ bản quyền phát minh, đền bù tổn thất do chậm trễ thẩm tra đơn xin cấp chứng nhận bản quyền gây ra. Thời hạn bảo hộ phải được quy định bằng luật của nhà nước.

e/ Về cấp phép

Các nước ký hiệp định này cần hạn chế tới mức tối đa việc cấp phép cưỡng chế. Chỉ được cấp phép cưỡng chế trong các trường hợp: để sửa chữa những vi phạm luật cạnh tranh; khi tuyên bố tình trạng khẩn cấp; vì lợi ích chung. Chỉ sau khi việc đàm phán phù hợp với thông lệ thương mại giữa người xin được sử dụng bản quyền và người sở hữu bản quyền bị tan vỡ thì mới được cấp phép cưỡng chế. Phép cưỡng chế chỉ được sử dụng trong phạm vi mục đích cấp phép, hơn nữa phải không có tính chất chèn ép, không được chuyển nhượng, chỉ được dùng để sản xuất trên thị trường sở tại. Người sở hữu bản quyền phát minh phải được đền bù một giá trị kinh tế hợp lý. Mức tiền đền bù do cơ quan tư pháp cấp trên xem xét quyết định.

g/ Hủy bỏ, thu hồi giấy chứng nhận bảo hộ, và sự bảo hộ có tính chất quá độ.

Vì lợi ích chung và vì không thực hiện được việc cấp phép cưỡng chế, có thể hủy bỏ chứng nhận bản quyền. Việc thu hồi chứng nhận bản quyền phải do cơ quan tư pháp quyết định.

Trước khi chấp nhận hiệp định này, các nước ký Hiệp định chung cần bảo hộ mang tính chất quá độ đối với những sản phẩm là đối tượng được bảo hộ bản quyền theo luật của bản quyền của nước họ. Thủ tục chính thức về chứng nhận bản quyền phải được quy định bằng pháp luật.

6/ Đối với thiết kế mạch tổ hợp

Các nước ký Hiệp định chung đồng ý bảo hộ bản quyền thiết kế mỹ thuật mạch tổ hợp theo “Hiệp ước về quyền sở hữu trí tuệ đối với mạch tổ hợp” (tức là “Công ước Washington” ký kết ngày 26/05/1989). Sự bảo hộ này không ngăn cản sự bảo hộ của các đạo luật khác.

Chưa được người sở hữu bản quyền chấp thuận mà đã sử dụng thiết kế mỹ thuật của họ vào mạch tổ hợp, nhập khẩu và tiêu thụ vì mục đích thương mại thiết kế mỹ thuật mạch tổ hợp được bảo hộ bản quyền, hoặc mạch tổ hợp có sử dụng thiết kế mỹ thuật được bảo hộ bản quyền, hoặc sản phẩm có lắp mạch tổ hợp loại ấy, là phạm pháp. Phục chế thiết kế mỹ thuật mạch tổ hợp để dùng cho giảng dạy, dùng vào mục đích phân tích đánh giá khi chuẩn bị thiết kế, thì được miễn truy cứu trách nhiệm.

Thời hạn bảo hộ bản quyền thiết kế mỹ thuật tại những nước lấy đăng ký làm điều kiện bảo hộ là không dưới 10 năm kể từ ngày đăng ký và từ ngày lần đầu tiên thiết kế ấy được đem ra buôn bán bất kỳ nơi nào trên thế giới. Thời hạn bảo hộ  ở nước không lấy đăng ký làm điều kiện bảo hộ cũng không được quá 10 năm kể từ ngày lần đầu tiên thiết kế ấy được đem ra buôn bán tại bất kỳ nơi nào trên thế giới. Nếu luật pháp yêu cầu phải đăng ký mà lại không đăng ký thì sau 2 năm kể từ ngày thiết kế đó lần đầu tiên đem ra buôn bán tại bất kỳ nơi nào trên thế giới, thiết kế ấy tự động mất quyền được bảo hộ.

7/ Bảo hộ thông tin chưa bị tiết lộ

Để ngăn ngừa một cách hữu hiệu hiện tượng cạnh tranh không công bằng, các nước phải cung cấp phương tiện pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân để họ ngăn chặn người khác tiết lộ, sử dụng thông tin của họ mà không được họ đồng ý; các nước ký hiệp định này không được tăng các điều kiện cấp phép một cách quá hà khắc hoặc có tính chất phân biệt đối xử để cản trở việc xin phép sử dụng thông tin chưa công khai, cũng không nên cấp phép cưỡng chế cho sử dụng thông tin.

Nhiều nước yêu cầu công bố hoặccung cấp những số liệu thí nghiệm chưa công bố, thì phải bảo hộ bản quyền về các số liệu đó để đề phòng những người cạnh tranh sử dụng số liệu ấy một cách không công bằng.

Các nước chỉ được tiết lộ bí mật thương mại cho người thứ ba trong trường hợp được sự đồng ý của người sở hữu những thông tin bí mật về thương mại, hoặc trong trường hợp cần thiết để hoàn thành chức năng của chính phủ.

Trong quá trình xin được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, mọi sự tiết lộ thông tin cho người thứ ba hoặc cho các cơ quan khác của chính phủ, đều phải xin ý kiến của người sở hữu trí tuệ và phải được cơ quan tư pháp phê duyệt.

8/ Biện pháp lấp chỗ trống

Nếu chưa thể thực hiện hiệp định này hoặc chưa thể thực hiện được nghĩa vụ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được quy định bằng pháp luật trong nước, các nước phải có các biện pháp lấp lỗ trống, gồm: nếu bản quyền không thể đưa vào ứng dụng được, hoặc phạm vi ứng dụng có hạn, thì cấp phép cưỡng chế; vì lợi ích của công chúng và để bảo đảm tự do cạnh tranh, phòng ngừa người sở hữu bản quyền lạm dụng bản quyền, nếu cần thiết thì cũng có thể cấp phép cưỡng chế; trường hợp luật pháp trong nước yêu cầu nhãn hiệu phải đưa ra sử dụng thì mới được bảo hộ bản quyền, thế nhưng sau một thời gian hợp lý vẫn không đưa ra sử dụng, trừ trường hợp có lý do chính đáng, còn thì đều phải hủy bỏ việc đăng ký nhãn hàng ấy; nếu trong hợp đồng có điều khoản mang tính chất lạm dụng hoặc chống cạnh tranh thì tuyên bố hợp đồng ấy không có hiệu lực.

Các nước phải bảo đảm cho những công dân nước mình có quyền sở hữu trí tuệ, tôn trọng nghĩa vụ của họ quy định trong hiệp định này, tôn trọng nghĩa vụ của họ được quy định trong luật của các nước khác.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s