Làn sóng cuối cùng – Phần I


Thế chiến thứ nhất đã chấm dứt kỷ nguyên đỉnh cao của chế độ quân chủ. Đến năm 1922, vương triều Habsburg, Hohenzollern, Romanov và Ottoman đều bị giải thể. Thay cho Hội nghị Berlin là Liên minh các Dân tộc bao gồm cả các quốc gia ngoài châu Âu. Kể từ đây, quốc gia – dân tộc trở thành tiêu chuẩn quốc tế hợp thức, khiến ngay cả các thế lực đế chế còn lại trong Liên minh này cũng mặc y phục dân tộc hơn là đồng phục đế chế. Sau đại biến cố Thế chiến thứ hai, làn sóng quốc gia – dân tộc đạt đến cao trào. Đến giữa những năm 1970 ngay cả đế chế Bồ Đào Nha cũng trở thành di sản của quá khứ.

Những nhà nước mới xuất hiện sau Thế chiến thứ hai có đặc trưng riêng của chúng. Tuy nhiên chỉ có thể hiểu được đặc trưng đó một khi nhìn vào các mô hình nối tiếp nhau mà chúng ta đang xem xét. Chúng ta sẽ thấy được mối liên hệ có tính kế thừa này nếu nhớ rằng phần đa những dân tộc (chủ yếu nằm ngoài châu Âu) này đều sử dụng các thứ tiếng châu Âu làm ngôn ngữ nhà nước. Nếu chúng giống với mô hình “châu Mỹ” ở khía cạnh này, thì chúng đã tiếp thu chủ nghĩa dân túy hăng hái từ chủ nghĩa dân tộc ngôn ngữ của châu Âu và định hướng chính sách Nga hóa từ chủ nghĩa dân tộc chính thức. Chúng tiếp thu bởi giờ đây ở bất cứ đâu những kinh nghiệm lịch sử phức tạp mà người châu Mỹ và châu Âu trải qua đều được coi là mẫu mực và bởi các ngôn ngữ nhà nước có nguồn gốc châu Âu mà chúng sử dụng là di sản của chủ nghĩa dân tộc chính thức của các đế chế. Điều này giải thích tại sao trong các chính sách “xây dựng dân tộc” của những nhà nước mới này ta thường thấy cả một cơn nhiệt hứng dân tộc chủ nghĩa đích thực của quần chúng lẫn một sự truyền dẫn mang tính hệ thống, thậm chí bằng thủ đoạn, các ý thức hệ dân tộc thông qua phương tiện truyền thông đại chúng, hệ thống giáo dục, các quy định hành chính… Đến lượt mình, hỗn hợp chủ nghĩa dân tộc bình dân và chủ nghĩa dân tộc chính thức này lại là sản phẩm của hai thực tế bất thường do chủ nghĩa đế quốc châu Âu tạo ra: tính võ đoán mà ta đều biết của các ranh giới và tầng lớp trí thức song ngữ đứng bấp bênh trên các cư dân đơn ngữ phồn tạp. Vì vậy ta có thể nghĩ về nhiều dân tộc trong số này trong tư cách những đề án đang thực thi và chưa hoàn thành – nhưng là các đề án được quan niệm bằng tinh thần của Mazzini hơn là tinh thần Uvarov.

Khi xem xét những nguồn gốc của “chủ nghĩa dân tộc thuộc địa” gần đây, một sự tương đồng quan trọng với các chủ nghĩa dân tộc thuộc địa giai đoạn sơ kỳ [châu Mỹ thế kỷ XVIII – ND] ngay lập tức khiến chúng ta chú ý: sự thống nhất giữa phạm vi lãnh thổ của mỗi chủ nghĩa dân tộc và phạm vi các đơn vị hành chính đế chế trước đây. Sự tương đồng này không hề ngẫu nhiên; rõ ràng nó có liên quan đến địa lý của tất cả những chuyến hành hương thuộc địa. Sự khác nhau nằm ở chỗ hình thái những chuyến hành hương của di dân châu Âu [ở châu Mỹ] trong thế kỷ XVIII không chỉ bị quyết định bởi tham vọng tập quyền của chính thể chuyên chế ở chính quốc mà còn bởi những khó khăn thực tế của thông tin và giao thông cũng như tình trạng lạc hậu của công nghệ nói chung. Trong thế kỷ XX, những khó khăn này chủ yếu đã được khắc phục, thay vào đó là sự xuất hiện của một chính sách “Nga hóa” có tính hai mặt.

Tôi đã lập luận rằng vào cuối thế kỷ XVIII, một trong những nguyên nhân khiến các đơn vị hành chính đế chế ở châu Mỹ có được ý nghĩa dân tộc là bởi chúng đã giới hạn phạm vi thăng tiến của các viên chức di dân châu Âu. Điều này cũng thể hiện trong thế kỷ XX. Bởi lẽ ngay cả trường hợp một thanh niên da vàng hoặc da đen người Anh được giáo dục hay đào tạo ở chính quốc – điều mà rất ít tổ tiên di dân châu Âu của anh ta có thể làm được – thì thông thường đây cũng là lần cuối cùng anh ta thực hiện chuyến hành hương công chức này. Kể từ đây, đỉnh điểm chuyến đi vòng cung của anh ta chính là trung tâm hành chính tối cao nơi anh ta có thể được bổ nhiệm: Rangoon, Accra, Goergetown hoặc Colombo. Nhưng trong mỗi chuyến đi gò bó này, anh ta bắt gặp những nguòi bạn đồng hành song ngữ mà anh ta ngày càng nhận thấy có chung một ý thức cộng đồng với họ. Trong chuyến đi của mình, anh ta nhanh chóng hiểu rằng nơi xuất thân của anh ta – bất luận được hình dung về mặt sắc tộc, ngôn ngữ hoặc địa lý – hầu như không có tầm quan trọng. Cùng lắm nó chỉ quyết định anh ta khởi hành chuyến hành hương này mà không phải chuyến hành hương kia: về cơ bản nơi xuất thân không quyết định đích đến hay bạn đồng hành của anh ta. Từ mô thức hành hương này, quá trình chuyển hóa tế vi, khi tỏ khi mờ nhà nước thuộc địa thành nhà nước dân tộc đã diễn ra một cách tuần tự, một sự chuyển biến không chỉ có nguyên do từ tính liên tục vững chắc của đội ngũ công chức nhà nước mà còn từ mạng lưới ổn định các chuyến hành trình mà nhờ có chúng các công chức mới được trải nghiệm nhà nước của mình.

Tuy nhiên kể từ giữa thế kỷ XIX, đặc biệt là trong thế kỷ XX, các chuyến đi không còn được tiến hành bởi một nhóm nhỏ những người lữ hành, chúng ngày càng được thực hiện bởi những đám đông khổng lồ và đa dạng. Có ba nhân tố chính dẫn tới điều này. Trước hết là sự phát triển vượt bậc của khả năng di chuyển nhờ những thành quả kinh ngạc của chủ nghĩa tư bản công nghiệp – đường sắt và tàu thủy chạy bằng hơi nước trong thế kỷ XIX, ô tô và máy bay trong thế kỷ này. Các chuyến hành trình dài ngày của châu Mỹ trước đây nhanh chóng trở thành quá khứ.

Thứ hai, chính sách “Nga hóa” theo kiểu đế chế được triển khai cả trong thực tiễn lẫn trong địa hạt ý thức hệ. Quy mô của các đế quốc châu Âu toàn cầu và nhân khẩu khổng lồ của cư dân bị trị đồng nghĩa rằng các bộ máy công chức thuần túy của chính quốc, thậm chí của di dân châu Âu, không thể đủ nhân sự cũng như đủ khả năng duy trì về mặt tài chính. Nhà nước thuộc địa và có phần muộn hơn, tư bản nghiệp đoàn, cần đến đội ngũ chức dịch văn phòng được yêu cầu thạo song ngữ, có thể làm thông ngôn giữa chính quốc và cư dân thuộc địa. Nhu cầu này ngày càng lớn khi các chức năng chuyên biệt của nhà nước được nhân rộng trên toàn cầu sau bước chuyển của thế kỷ. Bên cạnh viên chức cũ của các phân khu hành chính đã xuất hiện công chức y tế, kỹ sư thủy lợi, nhân viên khuyến nông, giáo viên, cảnh sát… Cùng với sự mở rộng quy mô của các nhà nước, đám đông những người hành hương nội bộ của chúng cũng phình ra.

Thứ ba là sự phổ cập giáo dục hiện đại do nhà nước thuộc địa và các tổ chức tôn giáo thế tục của tư nhân tiến hành. Sự mở rộng này không chỉ do nhu cầu cung cấp nhân sự cho bộ máy chính của quyền và các nghiệp đoàn mà còn do sự thừa nhận ngày một rộng rãi ngay cả của các cư dân thuộc địa tầm quan trọng về mặt đạo đức của tri thức hiện đại. (Trên thực tế hiện tượng những người thất nghiệp có học đã bắt đầu xuất hiện ở nhiều nhà nước thuộc địa).

Giới trí thức thường được thừa nhận là lực lượng có vai trò quyết định đối với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc tại các thuộc địa. Nguyên nhân chính là do chủ nghĩa thực dân đã đảm bảo cho các tài phiệt điền địa, các thương gia lớn, các nhà doanh nghiệp bản xứ, thậm chí tầng lớp lao động chuyên trách đông đảo, trở thành những thành phần xã hội tương đối hiếm hoi. Hầu như ở tất cả các thuộc địa, quyền lực kinh tế hoặc do chính các nhà thực dân nắm độc quyền hoặc được chia sẻ một cách bất bình đẳng với tầng lớp thương nhân bần cùng (phi bản xứ) không có vai trò về chính trị – người Liban, người Ấn Độ, người Arab ở châu Phi thuộc địa, người Hoa, người Ấn Độ, người Arab ở châu Á thuộc địa. Một điều được thừa nhận không kém phần rộng rãi đó là vai trò tiên phong của giới trí thức bắt nguồn từ khả năng đọc viết bằng song ngữ của họ, hay đúng hơn từ năng lực đọc viết và nắm vững song ngữ. Khả năng đọc ấn phẩm đã tạo điều kiện cho sự lan tỏa của các cộng đồng tưởng tượng trong thời gian đồng nhất, trống rỗng, điều mà chúng ta đã đề cập tới. Năng lực song ngữ tức khả năng tiếp cận, thông qua các ngôn ngữ nhà nước của châu Âu, văn hóa phương Tây hiện đại hiểu theo nghĩa rộng nhất, đặc biệt tiếp cận các mô hình chủ nghĩa dân tộc, dân tộc và quốc gia – dân tộc được tạo ra ở các khu vực khác trên thế giới trong thế kỷ XIX.

Vào năm 1913, chính quyền thực dân Hà Lan ở Batavia noi theo La Hay đã bảo trợ cho nhiều lễ hội lớn được tổ chức trên toàn xứ thuộc địa nhằm kỷ niệm một trăm năm “giải phóng dân tộc” Hà Lan khỏi tay đế quốc Pháp. Những mệnh lệnh được đưa ra nhằm đảm bảo sự tham dự trực tiếp và những đóng góp tài chính, không chỉ từ cộng đồng người Hà Lan và những nhóm người lai Âu – Á ở địa phương mà còn từ cư dân bản xứ bị trị. Để biểu thị sự phản kháng, nhà dân tộc chủ nghĩa Java-Indondesia thời kỳ đầu Suwardi Surjaningrat (tức Ki Hadjar Dewantoro) đã viết một bài báo nổi tiếng bằng tiếng Hà Lan “Nếu tôi là một người Hà Lan” (Als ik eens Nederlander was).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Benedict  Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2018.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s