Thách thức mới trong quan hệ giữa hai bờ eo biển – Phần I


Dịch COVID-19 là một khảo nghiệm lớn đối với chính phủ và nhân dân Trung Quốc kể từ khi nước Trung Quốc mới được thành lập đến nay. Chính quyền đảng Dân tiến (DPP) lợi dụng cơ hội dịch COVID-19 để dồn ép toàn diện trao đổi hai bờ eo biển, kích động tinh thần “sợ Trung Quốc”, “chống Trung Quốc” của người dân Đài Loan nhằm mưu cầu độc lập, gây thiệt hại nghiêm trọng cho sự phát triển của quan hệ hai bờ. Cục diện phức tạp và nghiêm trọng của quan hệ hai bờ lan dần từ trao đổi chính thức đến giao lưu nhân dân. “Thành Rome không thể xây dựng trong một ngày”, đi sâu phân tích nhân tố gây nên sự thay đổi này sẽ giúp phá vỡ các rào cản trong tương lai, tiếp tục thúc đẩy phát triển hòa bình quan hệ hai bờ.

Việc phát triển quan hệ hai bờ đối diện với môi trường mới

Kể từ khi lên cầm quyền vào năm 2016 đến nay, Chính quyền Thái Anh Văn thuộc DPP luôn không thừa nhận Nhận thức chung 1992 về nguyên tắc “một Trung Quốc”, trao đổi giữa hai bờ eo biển mất đi nền tảng chính trị chung, cơ chế trao đổi chính thức bị đình trệ, giao lưu nhân dân giữa hai bờ eo biển cũng bị phủ bóng đen. Mỹ ngày càng dựa vào cái gọi là “bẫy Thucydides”, sử dụng “quân bài Đài Loan” với ý đồ kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc đại lục.

Môi trường chế độ: Từ mở cửa đến kiểm soát

Giai đoạn 2008 – 2016, quan hệ hai bờ đã trải qua thời kỳ quan trọng của sự phát triển hòa bình dựa trên nền tảng Nhận thức chung 1992. Trong giai đoạn này, hai bờ đã thiết lập một cơ chế vận hành hiệu quả, bao gồm bố trí cơ chế gặp gỡ cấp cao giữa Văn phòng phụ trách các vấn đề Đài Loan của Trung Quốc và Ủy ban công tác đại lục của Đài Loan, bàn bạc về cơ chế của hai ủy ban của hai bờ, cũng như nền tảng trao đổi giữa các khu vực, lĩnh vực, ngành nghề, các nhà lãnh đạo hai bờ cũng đã thực hiện cuộc gặp mang tính lịch sử.

Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của đảng cầm quyền ở Đài Loan, trong nhiệm kỳ đầu tiên, DPP đã lợi dụng ưu thế kiểm soát toàn bộ hệ thống hành chính và lập pháp, thông qua sửa đổi một loạt quy định pháp luật, điều lệ hành chính và tư pháp, xây dựng khung pháp lý hành chính mới, kiểm soát nghiêm ngặt việc trao đổi giữa hai bờ, hạn chế sự đi lại của nhân viên ở hai bên, âm thầm thúc đẩy “giải thích hiến pháp Đài Loan độc lập”, đặc biệt là cái gọi là sửa đổi luật pháp “quốc an lập pháp” (6 bộ luật liên quan đến an ninh quốc gia) do DPP thúc đẩy, bao gồm sửa đổi Luật hình sự, Luật bảo vệ bí mật quốc gia, Điều lệ quan hệ nhân dân hai bờ, Luật an ninh quốc gia và xây dựng Luật chống xâm nhập, định hình bầu không khí của cái gọi là “nhà nước Đài Loan”, dựng lên hàng rào cản trở sự phát triển hòa bình của quan hệ hai bờ. Trong đó, việc sửa đổi khoản 3 điều 5 của Điều lệ quan hệ nhân dân hai bờ và Luật chống xâm nhập đã tạo thành mối đe dọa lớn đối với sự phát triển hòa bình của quan hệ hai bờ.

Để phản bác Thỏa thuận hòa bình hai bờ, tháng 3/2019, Viện Hành pháp thông qua dự thảo sửa đổi khoản 3 điều 5 Điều lệ quan hệ nhân dân hai bờ, điều này đã thiết lập ba lớp bảo vệ đối với việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận chính trị giữa hai bờ. Một là, 90 ngày trước khi đàm phán, Viện Hành chính (Chính phủ) phải đề xuất kế hoạch ký kết thỏa thuận với Viện Lập pháp (Quốc hội), tiến hành đánh giá ảnh hưởng đối với sự hợp hiến và tác động chính trị, sau khi 2/3 ủy viên lập pháp của Viện Lập pháp tham dự và đồng ý thì các cuộc đàm phán mới được bắt đầu tiến hành. Hai là, nếu dự thảo được hình thành sau khi thông qua đàm phán, thì Viện Hành chính phải sửa chữa và chuyển cho Viện Lập pháp thẩm tra, đồng thời báo cáo quá trình đàm phán cũng như tác động đối với sự hợp hiến và nền chính trị Đài Loan. Viện Lập pháp tổ chức hội nghị điều trần, sau cùng khi 3/4 nghị sĩ tham dự và đồng ý thì mới xem như hoàn thành. Ba là, trình Ủy ban bầu cử trung ương tổ chức trưng cầu dân ý toàn quốc, số phiếu thuận phải quá bán tổng số người được quyền bỏ phiếu mới xem như được thông qua, đến khi đó các cơ quan chức năng mới có thể ký kết, trao đổi văn kiện. Chính quyền DPP chủ tâm gây khó khăn cho việc ký kết thỏa thuận hòa bình, đồng nghĩa với việc đóng lại cánh cửa hiệp thương giữa hai bờ.

Hơn nữa, sau khi việc thúc đẩy cái gọi là sửa đổi luật “người đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc” bị ngăn chặn, Chính quyền Thái Anh Văn lại lợi dụng ưu thế số ghế áp đảo trong cơ quan lập pháp, trực tiếp vượt qua sự thẩm tra của các ủy ban liên quan, trong ngày cuối cùng của năm 2019 đã thông qua cái gọi là Luật chống xâm nhập. Theo các quy định có liên quan của Luật chống xâm nhập, trong thời gian tới nếu phát hiện các hành vi quyên góp chính trị, tài trợ bầu cử, vận động hành lang vi phạm pháp luật, phá hoại trật tự xã hội, truyền bá thông tin giả mạo gây rối loạn bầu cử là do nhận chỉ thị, ủy thác hoặc tài trợ của các lực lượng thù địch bên ngoài thì sẽ bị xử phạt nặng hơn. Tuy nhiên, “Thế nào là thế lực thù địch bên ngoài? Ai định nghĩa thế lực thù địch bên ngoài?” thì lại không được đề cập cụ thể, điều này đồng nghĩa với việc đã có không gian để DPP thao túng. Trong thời gian tới, những đối tượng bị DPP “chụp mũ”, không chỉ đơn giản là bị cảnh cáo nhắc nhở, mà là bị trừng phạt, khó tránh khỏi việc dẫn đến hiệu ứng sợ hãi.

Môi trường xã hội: Từ thân thiện đến hoài nghi

Quan hệ hai bờ đã trải qua sự trao đổi, hợp tác, phát triển mạnh mẽ trong nhiều năm, người dân hai bờ quả thực đã tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng lợi ích chung. Các ủy ban của hai bờ đã ký kết 23 thỏa thuận, thực hiện “tam thông” toàn diện, trực tiếp, hai chiều. Tính đến cuối năm 2018, có hơn 135 triệu lượt người đi lại giữa hai bờ, trong đó có hơn 100 triệu lượt người Đài Loan đến Đại lục. Năm 2018, quy mô thương mại hai bờ đạt 226,25 tỷ USD. Đặc biệt là chương trình thu hoạch sớm của thỏa thuận khung hợp tác kinh tế hai bờ đã mang lại lợi ích thiết thực cho người dân hai bờ. Tính đến cuối năm 2018, tổng cộng Đại lục đã miễn thuế cho Đài Loan khoảng 155,2 tỷ Đài tệ, Đài Loan có 53 doanh nghiệp tài chính và 1033 doanh nghiệp phi tài chính khai thác chính sách ưu đã thu hoạch sớm để cung cấp dịch vụ ở Đại lục.

Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng mức độ tương tác xã hội giữa hai bờ vẫn chưa đủ sâu, khi mức độ tin tưởng giữa hai bờ bắt đầu được cải thiện và sự phát triển quan hệ hai bờ đã đi vào chiều sâu thì lại hình thành khoảng cách, đặc biệt là do cách biệt lớn của hai bờ về diện tích, dân số, quy mô kinh tế, sức mạnh quân sự khiến cho người dân Đài Loan khó tránh khỏi việc nảy sinh tâm lý hoài nghi và hoang mang của bên yếu thế trong quá trình trao đổi giữa hai bờ. Trong bối cảnh người dân Đài Loan thường mờ mịt về tương lai, đặc biệt là sự thiếu lòng tin của giới trẻ đối với sức cạnh tranh của mình, quả thực ự phát triển sâu sắc của quan hệ hai bờ đã khiến người dân Đài Loan lo sợ trước cái gọi là “sự xâm thực kinh tế” của Đại lục, đặc biệt là lo ngại việc “bị thống nhất”. Vốn dĩ việc tiếp tục mở rộng trao đổi giữa hai bờ, đặc biệt là thúc đẩy tương tác ở nhiều góc độ, nhiều tầng nấc của người dân hai bờ là con đường hữu hiệu để xóa mờ khoảng cách, song lực lượng Đài Loan độc lập mà đứng đầu là DPP cố ý “Đại lục hóa” vấn đề “toàn cầu hóa”. Sau khi lên cầm quyền, DPP vì lợi ích bầu cử của mình đã biến cảm giác lo lắng của người dân đối với tương lai thành cái gọi là cảm giác mất nước, lợi dụng mọi cơ hội, định hình ý thức thù địch của người dân đối với Đại lục.

Sau khi dịch COVID-19 xảy ra ở Đại lục, DPP không những không viện trợ mà lấy lý do ưu tiên hàng đầu cho công tác phòng chống dịch bệnh trên đảo, không quan tâm đến nhu cầu phòng chống dịch bệnh của hàng trăm ngàn thương nhân, du học sinh Đài Loan và người thân của họ ở Đại lục, cấm xuất khẩu khẩu trang trong giai đoạn đầu tiên. Đồng thời Chính quyền DPP còn nhân cơ hội khi nhiều nước yêu cầu kiểm soát người Trung Quốc nhập cảnh để phòng chống dịch, liên tục công khai nhấn mạnh “Trung Quốc là Trung Quốc, Đài Loan là Đài Loan”, “Đài Loan không phải là một bộ phận của Trung Quốc” trong nỗ lực thúc đẩy Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kết nạp Đài Loan tham gia WHO theo phương thức hoàn chỉnh nhất. Sau khi yêu cầu vi phạm quy định WHO này bị từ chối, Chính quyền DPP đã lớn tiếng rêu rao “Đảng Cộng sản Trung Quốc gây trở ngại cho việc phòng chống dịch bệnh của Đài Loan””, khiến người dân Đài Loan có thái độ bất mãn đối với Đại lục, thậm chí với cả những người Đại lục kết hôn với người Đài Loan. Trước đó, Ủy ban công tác Đại lục của Đài Loan tuyên bố mở cửa có điều kiện cho vợ/chồng con cái ở Đại lục đến Đài Loan, tuy nhiên tuyên bố này đã bị hủy bỏ sau khi người dân trên hòn đảo này phản đối. Chính quyền Thái Anh Văn thậm chí công khai tuyên bố đã lựa chọn quốc tịch ngay từ đầu, thì bây giờ phải tự chịu trách nhiệm.

(còn tiếp)

Nguồn: www.hk.crntt.com – 27/04/2020

CVĐQT – số 05/2020.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s