Vụ Watergate và giới báo chí – Phần VI


Sự phát triển của phóng sự điều tra

Liệu vụ Watergate có dẫn đến một sự gia tăng trong số lượng phóng sự điều tra? Điều đó phụ thuộc vào khái niệm “phóng sự điều tra”là gì? Tất nhiên, Watergate không phải là sự bắt đầu của mối quan hệ thù địch giữa chính phủ và báo giới ở Washington. Sự kiện chính là Việt Nam chứ không phải là Watergate, và “sự bất tín nhiệm” của báo chí với chính quyền bắt đầu từ thời Johnson chứ không phải thời Nixon. Nhưng câu hỏi thực sự ở đây không phải là số lượng phóng sự điều tra có tăng hay không, vì những dấu hiệu đều đã cho thấy có tăng, mà là nó tăng từ khi nào và liệu có phải nó chỉ mang tính nhất thời. Chỉ có một số tờ báo cống hiến nguồn tin tức chủ yếu của mình cho việc điều tra, thậm chí cả sau khi vụ Watergate xảy ra, và nhiều tờ báo đã làm điều đó trước khi xảy ra vụ Watergate. Tờ Newsday thành lập một đội điều tra 1967, hãng tin Associated Press năm 1967, tờ Chicago Tribune năm 1968 và tờ Boston Globe năm 1970. Trong suốt những năm 1960, tờ New York Times đã hoạt động rất tích cực trong mảng phóng sự điều tra. Các tổ chức hỗ trợ được thành lập để kích thích sự phát triển của báo chí phê bình và điều tra: có khoảng hai chục tạp chí (chỉ một ít trong số này tồn tại được đến những năm 1980) bắt đầu với tờ Chicago Journalism Review năm 1968; Quỹ cho báo điều tra (1969), là quỹ đã giúp đỡ về mặt tài chính với những khoản nhỏ dành cho những phóng viên điều tra; và Tổ chức các phóng viên và biên tập viên điều tra (1975), một tổ chức hội viên nhằm khuyến khích phát triển phóng sự điều tra.

Nhưng ngày nay phóng sự điều tra không còn là sự ưu tiên với giới báo chí, và cũng chưa bao giờ nó là sự ưu tiên. Cựu chủ bút của tờ Washington Post Barry Sussman nói với tôi rằng: “Điều quan trọng nhất khi nói về những người biên tập báo là họ không phải là những người tham gia vào những cuộc vận động lớn”. Stephen Hess lại lập luận rằng làm phóng sự điều tra chỉ là theo phong trào “trong một thời gian ngắn”. Các nhà báo “đã tự hài lòng khi nghĩ về mình như những nhà điều tra vĩ đại, nhưng không phải lúc nào cũng thế và không phải báo chí là như thế”. Hess nóir ằng sau khi các chủ bút giao cho phóng viên đi săn những vụ lớn nhưng họ chỉ trở về với những điều rất nhỏ nhặt, thì chỉ có một vài tòa báo có nguồn lực dồi dào mới dám chơi trò mạo hiểm đó một lần nữa.

Ảnh hưởng của vụ Watergate với báo chí điều tra được thể hiện rõ ràng nhất trong thời gian ngay sau vụ Watergate, và trầm trọng nhất, sau một giai đoạn ngắn Ford cầm quyền, đối với Tổng thống Jimmy Carter. Carter đã hợp tác đưa chính quyền của ông ta đến với bất kỳ sự thay đổi nào khỏi tình trạng đạo đức giả và tham nhũng bởi vì ông đã sẵn sàng tiếp quản vụ Watergate như một bài hát ca ngợi trong chiến dịch bầu cử tổng thống của mình. Theo sau vụ Watergate sẽ rất khó khăn cho giới báo chí nếu không coi đó là một thách thức. Các phóng viên ở Washington đều mới nhận ra bề ngoài giả dối của chính phủ và việc mới hứng thú với công việc điều tra. Charles Seib viết trong tờ Washington Post năm 1977 rằng: “Một sản phẩm phụ của cuộc phiêu lưu Watergate là một thứ mốt nhất thời của báo giới: mốt viết phóng sự điều tra”. Ben Bradlee đã nói rằng các phóng viên, đặc biệt là phóng viên trẻ, đã “đưa tin về những vụ hỏa hoạn ở nông thôn cứ như đó là những vụ Watergate mới và sẽ lập luận rằng có xăng trong ngôi nhà và kẻ gây ra đám cháy đó là một người bài Do Thái, và họ thực sự nghĩ rằng đó là một cách để trở nên nổi tiếng.

Ngay trong giai đoạn đầu ở nhiệm sở, Carter đã phải đối mặt với vụ Bert Lance. Vụ đó cũng ảnh hưởng xấu đến chính quyền của Carter như một hiện tượng hậu Watergate. Nhưng với chính quyền Carter thì vụ đó mới chỉ là sự bắt đầu. Những năm của Carter, như Jimmy Carter đã nói, “là thời điểm mà mọi phóng viên nghĩ rằng, kể từ khi họ tìm ra những sự thật xấu xa về tổng thống trong vụ Watergate, sẽ phải còn điều gì đó. Nếu chúng ta tiếp tục đào bới, chúng ta sẽ tìm thấy”. Cả hai thư ký báo chí của Ford và Carter là Ron Nessen và Jody Powell đều phàn nàn rằng các phương tiện thông tin đại chúng nhìn thấy Việt Nam và vụ Watergate ở khắp mọi nơi. Phóng viên viết về Nhà Trắng của tờ St. Louis Post-Dispatch là James Deakin nhất trí với ý kiến này: “Phải rất lâu nữa vụ Watergate mới có thể phai nhạt. Phải mất nhiều thời gian để người Mỹ có thể quên được cuộc suy thoái những năm 1930, và cũng phải như thế với Việt Nam và vụ Watergate. Công chúng bị ảnh hưởng xấu và bắt đầu cảnh giác, các phóng viên cũng vậy”. Bob Woodward nói về quá trình điều tra của các phương tiện truyền thông với nhân viên hàng đầu của Tổng thống Carter, Hamilton Jordan, về việc ông ta đã sử dụng cocaine ở một sàn nhảy ở New Yorkk: “Anh phải nhớ rằng những kinh nghiệm trong vòng 10 đến 15 năm qua chỉ ra rằng cuối cùng quan chức chính phủ sẽ bị buộc tội như họ bị kiện. Chúng tôi không tình cờ gặp những người mà sự biện hộ của họ được xem xét kỹ lưỡng”. Một phóng viên tờ New York Times đã giải thích rằng anh ta tin Jordan có tội bởi vì “trong mọi trường hợp mà tôi có thể nhớ được, những chính trị gia luôn luôn tỏ ra là đang nói dối”.

Dưới thời Reagan, phong trào phóng sự điều tra có vẻ đã hết thời. Một phần là vì phong trào đó không thể kéo dài: không một vụ nao như Watergate được tìm thấy sau nhiều năm điều tra. Các nhà báo thối chí. Phần nữa là chính các nhà lãnh đạo báo chí cũng không còn hăng hái với công việc điều tra như xưa nữa. Phần khác nữa là Ronald Reagan đã hết sức xuất sắc với việc quan hệ với công chúng, ít nhất là trong nhiệm kỳ đầu của ông ta.

Một lý do khác nữa là giai đoạn thứ hai của vụ Watergate và báo chí đã ngự trị. Khi bộ phim Tất cả những người của tổng thống ca ngợi và phổ biến huyền thoại báo chí trong vụ Watergate thì huyện thoại thứ hai, giai đoạn Watergate trong báo chí, đã có được sự ra mắt của bộ phim Không có sự ác tâm (Absence of Malice). Bộ phim được xử lý năm 1981 bởi nhà đạo diễn Sydney Pollack. Nó đã mang lại giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất (Paul Newman) và nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất (Melinda Dillon). Mở đầu bộ phim đã được giới thiệu như một bộ phim về báo chí trong thời kỳ hậu Watergate. Trong khi bộ phim Tất cả những người của tổng thống có nhiều những đoạn ngắt âm như của máy đánh điện lỗi thời thì phim Không có sự ác tâm mở đầu với các cảnh phim trình bày công nghệ cao và việc in một trang báo bằng công nghệ in offset hình ảnh. Phim Tất cả những người của tổng thống ngụ ý rằng cách đưa tin lờ mờ không rõ ràng có thể được biện hộ khi báo chí theo đuổi đằng sau một nhà lãnh đạo đầy quyền lực (những người trong thực tế tỏ ra là có tội); bộ phim Không có sự ác tâm lên án những thủ đoạn báo chí trong việc tìm kiếm tin tức của một người đơn lẻ (người có thể trong thực tế là không có tội). Những khán giả xem phim Tất cả những người của tổng thống theo quan điểm của Woodward và Bernstein bị kiềm chế bởi chiếc máy quay phim trong bộ phim Không có sự ác tâm để phải xem hành động đứng trên quan điểm của những người là nạn nhân của báo chí. Có một cảnh khi nạn nhân Michael Gallagher (Paul Newman) bào chữa cho vụ của ông ta trước phóng viên báo chí, biên tập viên và luật sư. Trong một cảnh rất hay có đoạn khán giả ngước lên nhìn khắp bàn, nhìn người phóng viên và biên tập viên, từ góc độ của Gallagher, những người bình thản thờ ơ, không thèm chú ý tới Gallagher và tới khả năng họ có thể đem lại sự bất công cho anh ta. Mặc dù bộ phim không ám chỉ hoàn toàn đến vụ Watergate, nhưng những gì đối ngược với bộ phim Tất cả những người của tổng thống thì không cần phải chỉ ra thêm nữa.

Mặc dù có những ý kiến cho rằng có ảnh hưởng của thời kỳ hậu Watergate đối với giới báo chí, nhưng vẫn có cái gì đó không rõ ràng. “Giả thuyết không”, là giả thuyết cho rằng vụ Watergate không làm thay đổi giới báo chí, có vẻ không được nhiều người ủng hộ. Carl Bernstein đã nghiêng về giả thuyết này trong bài bình luận ở Trường Kennedy năm 1989 như sau: “Watergate không có ảnh hưởng giống như những gì mà mọi người đã hy vọng nó có… chúng tôi không nhìn thấy một sự thay đổi thực sự có ý nghĩa nào trong giới báo chí” từ sau khi Ricahrd Nixon từ chức. Bob Woodward cũng nghiêng về quan điểm này bằng cách phát biểu vài năm trước rằng Watergate là một “đốm sáng” trong lịch sử báo chí, chứ không phải là khoảnh khắc xác lập của một kỷ nguyên mới.

Sau vụ Watergate, Woodward leo lên vị trí biên tập của tờ Washington Post, đã viết hết cuốn sách phóng sự này đến cuốn sách phóng sự khác – sau cuốn Những ngày cuối (với Bernstein) là cuốn Đồng hữu (với Scott Armstrong), Bị chăng lưới thép (về John Belushi), Mạng che mặt (về William Casey và CIA) và Những người chỉ huy (về Lầu Năm Góc). Tất cả những cuốn sách đều là những cuốn bán chạy nhất và vẫn có đầy rẫy những ý kiến chỉ trích các phương pháp của Woodward. Tại sao lại là các đoạn trích dẫn không rõ nguồn gốc? Tại sao là những nguồn tin vô danh? Có sự bảo đảm nào cho việc dựng lại chính xác cuộc hội thoại ở cuộc họp mà Woodward không tham dự và các nhân chứng đó còn nhớ lại những ngày, tuần thậm chí cả những năm sau đó? Kiểu đặt câu hỏi này chỉ có thể dựa trên thực tế là Woodward là biên tập viên của Janet Cooke trong câu chuyện “”Thế giới của Jimmy”, câu chuyện đã được nhận một Giải Pulitzer năm 1980 nhưng sua đó bị mất bởi người ta phát hiện ra rằng đứa trẻ nghiện heroin trong chuyện là một sáng tạo của người phóng viên này. Cooke bị tước giải thưởng, Bob Woodward và tờ Washington Post bị một phen bẽ mặt.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s