“Bộ Tứ” xây dựng thỏa thuận phòng thủ tập thể đối phó Trung Quốc


Trang mạng của Viện Chính sách Chiến lược Australia (ASPI)ngày 17/2 đăng bài phân tích của nhà nghiên cứu Charlie Lyons Jones, trong đó đánh giá tính hiệu quả của nhóm Bộ Tứ trong việc kiềm chế các hoạt động trong vùng xám của Trung Quốc trong tương lai.

Theo bài viết, sự phòng thủ tập thể của nhóm Bộ Tứ có nguy cơ trở nên không phù hợp với thời đại cạnh tranh chiến lược trong vùng xám trong bối cảnh Nga và Trung Quốc có thể khai thác các lỗ hổng để giành nhiều lợi thế. Nhóm Bộ Tứ đã ngầm thừa nhận điều này và đã phát triển một phương án phòng thủ tập thể để có thể đáp trả các mối đe dọa dưới nhiều hình thức mà Trung Quốc đặt ra.

Để nhóm Bộ Tứ có thể thành công theo cách này, các thành viên Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ sẽ cần phải hợp tác với nhau bằng cách tận dụng lực lượng – hoặc các chiến thuật ở mức cao hơn hoặc thấp hơn một chút so với ngưỡng xung đột vũ trang – để ngăn chặn các âm mưu chiếm đoạt lãnh thổ của Trung Quốc. Nhóm Bộ Tứ cũng sẽ cần một chiến lược nhất quán để đối phó với các hoạt động khác dưới ngưỡng ung đột vũ trang của Trung Quốc.

Điều này sẽ đòi hỏi sự hiểu biết rộng rãi về quốc phòng và tận dụng các yếu tố khác nhau của sức mạnh quốc gia để đối chọi hàng loạt mối đe dọa cưỡng ép. Mỗi thành viên sẽ cần phải hiểu những đòn bẩy nào nên được đưa vào thời điểm nào trong một chiến lược chặt chẽ nhằm kiềm chế khả năng đạt được các mục tiêu chính trị của Bắc Kinh ở mỗi giai đoạn cạnh tranh hoặc xung đột.

Sức mạnh mà Trung Quốc huy động càng mang tính cưỡng chế, thì các lực đẩy sức mạnh quốc gia mà các thành viên Bộ Tứ cần tranh thủ càng ít. Trong ví dụ giả định đối với trường hợp Đài Loan, 4 thành viên của Bộ Tứ sẽ phải bớt phụ thuộc vào các đòn bẩy quân sự của sức mạnh quốc gia – dù là trong các giai đoạn khác nhau của cuộc xung đột và ở các khu vực khác nhau.

Đối phó với những lời đe dọa mang tính cưỡng chế cao nhất của Trung Quốc sẽ là phần dễ nhất trong công tác của nhóm Bộ Tứ. Sẽ khó hơn nếu Trung Quốc huy động ít sức mạnh cưỡng chế hơn khi đe dọa lợi ích của nhóm Bộ Tứ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Đây là lúc mà sự khác biệt giữa phòng thủ tập thể và phòng thủ hợp tác trở thành chìa khóa.

Theo thời gian, Trung Quốc đã cải tạo đất và biến các đảo thành các cơ sở quân sự nhằm tăng cường khả năng phô trương sức mạnh trên khắp khu vực Tây Thái Bình Dương. Điều này đã làm tăng chi phí bảo vệ các đồng minh trong hiệp ước của Mỹ, qua đó làm suy yếu sự hiện diện của Mỹ ở châu Á.

Đối với Nhật Bản và Australia, các cơ sở ở Biển Đông của Trung Quốc là mối đe dọa đối với quyền tự do hàng hải mà mỗi bên dựa vào để thực hiện các hoạt động thương mại.

Tại Ấn Độ, nguy cơ có thể không cao bằng, nhưng bất kỳ sự xói mòn nào đối với các thông lệ quốc tế ở Biển Đông sẽ đặt ra một tiền lệ không được hoan nghênh khi quân đội Trung Quốc tăng cường hiện diện ở Ấn Độ Dương. Cho đến nay, mức độ rủi ro khác biệt đối với mỗi quốc gia trong nhóm Bộ Tứ khiến cho một phản ứng chung là không thể.

Tuy nhiên, sự đối phó hiệu quả với hành động cưỡng chế tại vùng xám của Trung Quốc không cần phải là một sự đối phó “tâp thể”. Năm 2017, Ely Ratner, cố vấn hàng đầu về Trung Quốc của ông Biden tại Lầu Năm Góc, đã lập luận trên tờ Foreign Affairs rằng Mỹ nên “giúp các nước trong khu vực bảo vệ yêu sách của mình và từ bỏ vị thế trung lập”. Ông Ratner đề xuất rằng Mỹ nên giúp đỡ các đồng minh hiệp ước như Philippines với các dự án cải tạo đất chung, tăng cường bán vũ khí và cải thiện khả năng tiếp cận căn cứ. Các thành viên khác của nhóm Bộ Tứ cũng sẽ cần dựa trên quan hệ đối tác song phương của riêng từng nước để giúp các quốc gia có tranh chấp củng cố sức dẻo dai trước các chiến dịch trong vùng xám của Bắc Kinh. Bộ Tứ sẽ là một phương tiện tinh tế giúp các bên tranh chấp ở Đông Nam Á bảo vệ chủ quyền trước chủ nghĩa bành trướng đang lan tràn của Trung Quốc.

Đề xuất của Ratner cho thấy sự hợp tác phòng vệ đang được xúc tiến với sự hỗ trợ của sức mạnh to lớn đã được thiết lập ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong khi Washington đang đặt nền móng để cạnh tranh với Trung Quốc trong vùng xám, Australia có thể tăng cường các sáng kiến xây dựng năng lực hàng hải và các cuộc tập trận hải quân chung với Malaysia và Indonesia ở các khu vực quần đảo tại Đông Nam Á.

Trong khi đó, Ấn Độ và Nhật Bản đều có thể tăng tần suất tập trận hải quân song phương với Việt Nam. Bộ Tứ có thể nhất trí tiến hành Tập trận Malabar ở Biển Đông, trong khi các thành viên của “Mạng lưới Chấm xanh” (Blue Dot Network) có thể cùng tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng ở các quốc gia ven biển. Một chiến lược hiệu quả sẽ yêu cầu mỗi thành viên Bộ Tứ sử dụng kết hợp ngoại giao, viện trợ, trao đổi quân sự, mua bán vũ khí, tập trận chung và cơ sở hạ tầng căn cứ mới.

Không có sáng kiến nào trong số này có thể đạt được kết quả ngay lập tức, nhưng chiến dịch xây đảo của Trung Quốc cũng vậy. Theo thời gian, mỗi sáng kiến sẽ gia tăng sức ép ngược lại với Trung Quốc. Khi mà mỗi thành viên Bộ Tứ hành động một cách vừa độc lập vừa hợp tác để khuyến khích các quốc gia có tuyên bố chủ quyền bảo vệ quyền hàng hải của họ, Bắc Kinh sẽ phải hứng chịu những rủi ro mới khi luân chuyển các máy bay chiến đấu mới tại khu vực trên Đá Chữ Thập hoặc có ý đồ thực hiện thêm các vụ xâm nhập mới tại Quần đảo Natuna.

Sự hợp tác sẽ cho phép mỗi thành viên Bộ Tứ có thể tìm ra cách tốt nhất để thu hút các mối quan hệ đối tác song phương nhằm khuyến khích các quốc gia tuyên bố chủ quyền bảo vệ lợi ích của họ. Bộ Tứ trên danh nghĩa là vô hình, nhưng lại hiện diện khắp Đông Nam Á. Đó chính xác sẽ là mối đe dọa mà Bắc Kinh không muốn đối mặt.

Để thành công với tư cách là một nhóm hợp tác phòng thủ, Bộ Tứ cần tuân thủ 3 nguyên tắc: Các thành viên cần phải làm việc độc lập trong các mối quan hệ song phương để cải thiện khả năng bảo vệ lợi ích của các quốc gia có tranh chấp; các nước thành viên phải thực hiện các cuộc tập trận cùng nhau bất cứ khi nào hoàn cảnh chiến lược yêu cầu; và các thành viên cần chia sẻ các lưu ý về chiến lược khu vực, qua đó khiến Trung Quốc sẽ gặp nhiều khó khăn hơn để đạt được những thành tích mới trong các yêu sách lãnh thổ của mình.

Việc tuân thủ các nguyên tắc này sẽ cho phép Bộ Tứ nhận tiềm năng của một thỏa thuận hợp tác quốc phòng trong việc chống lại các hoạt động trong vùng xám của Trung Quốc.

Ngoại trưởng Mỹ sẽ họp thường xuyên với các Ngoại trưởng của nhóm Bộ Tứ

Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 18/2 thông báo, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã đạt được thỏa thuận về việc nhóm họp thường xuyên với những người đồng cấp từ 3 nước còn lại trong nhóm Bộ Tứ. Thảo thuận nói trên được đưa ra trong cuộc họp trực tuyến giữa Ngoại trưởng Blinken với các Ngoại trưởng Australia Marise Payne, Ngoại trưởng Ấn Độ S. Jaishankar, Ngoại trưởng Nhật Bản Toshimitsu Motegi.

Thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Mỹ nêu rõ: “Các Ngoại trưởng đã tái khẳng định cam kết đối với cuộc họp của nhóm Bộ Tứ ít nhất ở tần suất thường niên cấp Bộ trưởng và thường xuyên ở các cấp cao và chuyên viên nhằm tăng cường hợp tác thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và mở, bao gồm cả ủng hộ tự do hàng hải và toàn vẹn lãnh thổ”.

Ngoài ra, các Ngoại trưởng cũng nhất trí rằng các nước này mạnh mẽ phản đối bất kỳ động thái nào của Trung Quốc muốn thay đổi hiện trạng khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương bằng vũ lực hoặc ép buộc.

Nguồn: 22/02/2021.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s